Login Logout Admin Register

Harry Potter 6 in Vietnamese (Part 1)

Part: 1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - 10

Harry Potter 6

Chương 1:
The other Minister
Một vị Bộ trưởng khác

Lúc đó đã gần nửa đêm, vị Thủ tướng vẫn còn ngồi trong văn phòng của mình để đọc một bộ hồ sơ dài dằng dặc mà những ý tứ trong đó không để lại dấu vết gì trong đầu óc ông ta. Ông đang đợi điện thoại của Tổng thống gọi về từ một đất nước xa xôi và trong lúc đó ông tự hỏi: liệu bao giờ thì con người khốn khổ này mới gọi đến. ông cố trấn áp những hồi ức khó chịu về một tuần làm việc dài dằng dặc, mệt mỏi và khó nhọc đến nỗi chẳng có lúc nào đầu óc được rảnh nữa. Ông càng cố gắng tập trung vào các con chữ trong các chứng từ trước mặt bao nhiêu thì hình ảnh về những bộ mặt hả hê của các đối thủ chính trị của ông – lại càng hiện rõ bấy nhiêu. Có một đối thủ đặc biệt của ông đã xuất hiện trên các trang báo mới đây chẳng những đã liệt kê hàng loạt những sự kiện khủng khiếp đã xảy ra vào tuần trước (mặc dù chẳng ai cần tới việc làm đó của ông ta), mà còn cố gắng lý giải từng sự kiện ấy như là lỗi lầm của Chính phủ.

Tim vị Bộ Trưởng đột nhiên thót lại khi nghĩ đến những lời buộc tội nói trên. Chúng thật bất công và sai sự thật. Bằng cách nào mà Chính phủ của ông lại phải biết trước để ngăn không cho một cây cầu đổ sụp xuống? Thật đáng xấu hổ cho những ai nghĩ rằng Chính phủ đã không giành sự quan tâm thoả đáng cho những chiếc cầu. Chiếc cầu mới xây dựng chưa đầy 10 năm, và những chuyên gia giỏi nhất cũng không thể giải thích nổi tại sao nó lại gẫy rụp làm đôi và tống một loạt xe ô tô xuống đáy sông sâu. Và thật là ngượng mồm nếu ai đó cho rằng: vì thiếu cảnh sát nên 2 vụ giết người kinh tởm và công khai đã xảy ra? Hay những ai buộc Chính phủ phải bằng cách nào đó dự đoán được về sự xuất hiện của một trận cuồng phong bất thường ở đất nước phía Tây làm thiệt hại vô số người và tài sản? Và chẳng lẽ việc vị bộ trưởng mới nhậm chức của ông là Herbert Chorley đã chọn đúng tuần lễ đen tối đó để nghỉ ở nhà với gia đình – cũng là lỗi của ông nốt?

“Một tình cảnh tồi tệ đang bao trùm đất nước chúng ta” – tay đối thủ của ông kết luận và không hề che đậy nụ cười rộng toác đầy hả hê của hắn.
Và thật bất hạnh, cái kết luận của hắn lại hoàn toàn là sự thật. Vị Thủ tướng cũng phải thừa nhận điều này. Quả thật là nhân dân dường như đã bị hoảng loạn hơn một cách bất thường. Ngay cả thời tiết cũng trở nên u ám khác thường; có điều gì đó thật không ổn…sương mù lạnh giá xuất hiện dày đặc vào tháng bảy! thật bất thường!

Ông lật đến trang thứ hai của bộ hồ sơ để xem nó dài hơn trang trước là bao nhiêu, và rồi quảng nó đi như thể đó là một thứ công việc tồi tệ. Hai tay ôm lấy đầu chán nản, ông nhìn quanh quẩn trong văn phòng của mình. Đây là một căn phòng đẹp đẽ, lò sưởi bằng đá hoa cẩm thạch đối diện với cửa sổ khung kính khá rộng đang đóng chặt để chống lại cái lạnh trái mùa. Một thoáng ớn lạnh, vị Thủ tướng đứng lên và tiến tới cửa sổ, nhìn ra bên ngoài thấy lớp sương mù dày đặc bám chặt lấy mặt kính cửa. Chính vào lúc đó, cái lúc mà ông quay lưng lại phía phòng, đột nhiên ông nghe thấy một tiếng ho nhẹ đằng sau.

Ông lạnh cứng người và chúi mũi vào hình ảnh đầy sợ hãi của chính ông được phản chiếu trên kính cửa sổ. Ông biết tiếng ho này. Trước kia, Ông đã từng nghe thấy nó. Ông chậm rãi quay người lại đối diện với căn phòng trống vắng.

- Ai đó? - ông hỏi và cố gắng giữ cho giọng của mình dũng cảm để che dấu đi sự sợ hãi.

Chỉ một khoảnh khắc ngắn sau đó, ông tự nhủ một cách tuyệt vọng rằng sẽ chẳng có ai trả lời ông đâu. Thế nhưng, ngay lập tức một giọng quả quyết và chắc nịch đáp lại như thể xuất phát từ một người nào đó đang ngồi đọc trước một bài phát biểu. Ngay từ tiếng ho đầu tiên ông đã hiểu nó phát ra từ đâu! Đó là từ người đàn ông nhỏ bé trông giống như con nhái, đội mớ tóc giả dài màu bạch kim, nằm trong bức tranh sơn dầu bẩn thỉu đặt ở một góc xa của căn phòng.

- “Chuyển lời đến ông Thủ tướng dân Muggles. Chúng tôi rất cần gặp. Mong ông trả lời gấp. Cám ơn. Thông điệp do Ngài Fudge gửi.”

Người đàn ông trong bức tranh nhìn ông Thủ tướng và chờ đợi sự hồi đáp.

- “E hèm,” ông Thủ tướng hắng giọng: “Này nghe đây, đây là thời điểm không may mắn đối với tôi… Vả lại, tôi đang phải đợi điện thoại… Ông biết đấy..điện thoại của ngài Tổng thống…”

- “Điều này dễ giải quyết thôi” - bức tranh đáp ngay lập tức. Quả tim ngài Thủ tướng như rớt xuống bụng. Ông sợ cuộc gặp mặt này.

- “Dẫu sao tôi vẫn muốn được nói chuyện điện thoại hơn”

- “Chúng tôi sẽ giàn xếp để cho ngài Tổng thống của ông quên khuấy cuộc gọi tối nay đi. Thay vào đó, ông ta sẽ gọi tối mai” - Người đàn ông bé nhỏ nói - “Hãy vui lòng chấp nhận gặp mặt ngay với Ngài Fudge.”

“à ừ … thế cũng được” – vị Thủ tướng nhận lời một cách miễn cưỡng: “Được rồi, tôi sẽ tiếp ngài Fudge.”

Ông vội vã quay trở lại bàn làm việc, sửa sang lại chiếc cà vạt trên cổ cho tề chỉnh trước buổi gặp. Đặt lưng trở lại chiếc ghế nơi ông ngòi trước đó, ông cố tạo ra vẻ mặt thư thái và thanh thản. Trong khi đó, những ngọn lửa xanh lá cây đột nhiên cháy bùng lên một cách sống động trong cái lò sưởi bằng đá hoa cương vốn trước đó vẫn trống không. Ông cố gắng không để lộ ra sự hồi hộp hay kinh ngạc khi nhìn thấy bên trong ngọn lửa – một người đàn ông béo tốt quay tít như con quay. Chỉ thoáng sau đó, người đàn ông này đã trèo qua cửa lò sưởi và bước lên tấm thảm trải nhà cổ kính và khá đẹp. Ông này dùng một ống tay áo để phủi bụi tro còn vương trên chiếc áo choàng kẻ sọc, còn tay kia nắm chặt một cái mũ quả dưa sọc da cam lẫn với sọc xanh lá cây.

- “à chào Ngài Thủ tướng!” - Cornelius Fudge vừa nói vừa tiến tới và chìa tay ra: “Thật mừng được gặp lại ông”.

Vị Thủ tướng tỏ ra không mặn mà cho lắm với lời thăm hỏi xã giao ấy; ông im lặng. Ông chẳng lấy gì thích thú khi gặp Fudge, một người chỉ thỉnh thoảng xuất hiện, nhưng lần nào cũng đem đến những tin tức xấu. Hơn thế, lúc này trông ông ta có vẻ như kiệt sức. Ông ta trông gầy, nhợt nhạt, đầu hói trụi và mặt thì nhàu nhĩ. Ngài Thủ tướng đã từng nhìn thấy bộ dạng như vậy của các nhà chính trị, và chắc chắn – nó chẳng bao giờ hứa hện điều gì tốt lành cả.

- “Tôi có thể giúp gì cho ông?” – Ngài Thủ tướng hỏi khi bắt tay Fudge một cách hời hợt và mời ông này ngồi vào hàng ghế trước bàn làm việc.

- “Thật khó biết nên bắt đầu từ đâu” – Fudge càu nhàu, kéo ghế, ngồi xuống và đặt chiếc mũ quả dưa lên đầu gối – “Một tuần lễ.. thiệt tình…hết chỗ nói…”

- “Ông lại có tin xấu ư?” – Ngài Thủ tướng hỏi giọng lạc đi; hy vọng rằng tin mang đến sẽ không như điều ông nói, vì chỉ riêng những tin tức đến với ông trong tuần lễ vừa rồi đã đủ; chẳng cần Fudge phải giúp thêm mấy tin chết người nữa.

- “ồ, đương nhiên,” - Fudge vừa đáp vừa dụi lấy dụi để cặp mắt ngái ngủ và quay sang nhìn ngài Thủ tướng một cách dửng dưng: “Tôi cũng có một tuần lễ khốn kiếp như của Ngài vậy, thưa ngài Thủ tướng. Vụ Cái cầu Brockdale Bridge…, rồi thì vụ giết người ở Bones và Vance, đó là chưa kể đến những cuộc náo loạn ở Đất nước Miền Tây..”

- “Ông…ông cho rằng người của ông đã dính vào các vụ này à?”

Fudge đóng cứng ngài Thủ tướng bằng một cái nhìn lạnh lùng: “Đương nhiên là họ” - ông này nói tiếp: “Hẳn là Ngài đã biết được thực chất những gì đang xảy ra rồi chứ?”

- “Tôi…” – Ngài Thủ tướng ngập ngừng.

Đây chính xác là thái độ khiến Ngài Thủ tướng chẳng mặn mà gì lắm đối với những cuộc thăm viếng của Fudge. Ngài trước hết là một vị Thủ tướng, ấy vậy mà ông ta đối xử với ngài như thể với một đứa học trò dốt nát đang bị quẩ trách vậy. Đương nhiên, ngay từ buổi chiều gặp gỡ đầu tiên – ngay sau khi ngài nhậm chức Thủ tướng, cái cảm giác ấy đã có. Ngài Thủ tướng vẫn nhớ như in lần đầu gặp mặt đó như thể nó vừa mới diễn ra ngỳa hông qua vậy. Và có lẽ nó còn ám ảnh ngài cho tới khi chết.

Khi đó, ngài đang đứng một mình trong chính văn phòng này, đang nhấm nháp hương vị ngọt ngào của cái chiến thắng mà bấy lâu ngài đã khổ công gây dựng và khát khao - đó là đạt được chức vị Thủ tướng. Bỗng nhiên, ngài nghe thấy có tiếng ho đằng sau (cũng giống như hôm nay), quay lại và phát giác ra rằng bức hoạ chân dung xấu xí đang nói với ngài. Nó thông báo cho ngài về việc ông Bộ trưởng Bộ pháp thuật đang đến và muốn làm quen với ngài.
Tự nhiên, ngài nghĩ rằng, có lẽ vì phải trải qua bao nhiêu lần vận động và tranh cử, nên ngài đã phát điên. Nhưng cuối cùng, ngài cũng hoảng sợ mà nhận ra rằng: chính bức tranh đã nói chuyện với ngài. Và không có gì mô tả được cảm giác kinh hãi của ngài khi trông thấy một vị phù thuỷ vọt ra từ lò sưởi. Vị này tự giới thiệu bản thân và chìa tay để ngài bắt. Ngài vẫn còn nhớ một cách lõm bõm những điều mà Fudge đã cố gắng giải thích sao cho thật đơn giản, rằng: trong những ngõ ngách bí mật trên khắp thế giới, có vô số phù thuỷ nam và nữ đang sống. Và Fudge đã cam đoan rằng, việc họ tồn tại thật sự trên thế giới không phải là điều đáng ngại vì ông ta chính là người lãnh đạo họ. ông ta là vị Bộ trưởng bộ Pháp thuật – một người có trách nhiệm đối với toàn bộ cộng đồng các vị phù thuỷ, và có nghĩa vụ ngăn chặn không để cho thế giới người thường biết đến sự tồn tại này. Cũng theo lời ông ta nói, thì đây là một công việc hết sức khó khăn vì nó bao gồm rất nhiều nhiệm vụ: từ việc đề ra các quy định sử dụng chổi thần, cho đến nhiệm vụ kiểm soát lũ rồng (nghe đến “rồng”, ngài Thủ tướng phải bám lấy mép bàn để khỏi ngã sụm xuống). Khi đó Fudge đã nhẹ nhàng vỗ vai ngài Thủ tướng đang chết lặng người đi – theo kiểu người cha vỗ vai đứa con nhỏ.

- “Đừng sợ” - ông ta nói - “Ngài sẽ còn gặp tôi nhiều lần nữa. Tôi sẽ chỉ làm phiền ngài khi có những sự vụ thật nghiêm trọng xảy ra trong giới chúng tôi – những sự vụ có khả năng tác động đến đời sống của dân chúng Muggles – tức là những người không biết pháp thuật – theo cách gọi của tôi. Ngoại trừ những việc như vậy thì hãy cứ sống bình thường. Ngoài ra, tôi cũng muốn nói thêm với ngài rằng: ngài xử xự có vẻ khá hơn nhiều so với người tiền nhiệm của mình (tức là khá hơn so với vị Thủ tướng trước đó). Ông Thủ tướng cũ chút nữa đã ném tôi ra ngoài cửa sổ, vì ông ta ngỡ rằng tôi là người mà phe đối lập cử đến để chơi xỏ ông”.

Rốt cuộc, cũng đến lúc ngài Thủ tướng lấy lại được can đảm để cất tiếng hỏi: - “Vậy…vậy ông không phải là người đến chơi xỏ tôi chứ?”. Ngài vẫn bám víu một cách tuyệt vọng vào cái hy vọng cho rằng: cuối cùng thì mọi điều đang xảy ra chỉ là câu chuyện đùa!

- “Không” - Fudge nhẹ nhàng trả lời - “Tuyệt nhiên, tôi không nghĩ rằng mình đang đùa. Hãy xem đây!”

Và ông ta đã biến cái tách trà của ngài Thủ tướng thành một con chuột nhắt.

- “Nhưng” – ngài Thủ tướng vừa lắp bắp như bị hụt hơi, vừa nhìn theo cái tách của mình kêu “chít chít”, vừa nói tiếp: “Nhưng tại sao chẳng có ai cho tôi biết?”

“Vị Bộ trưởng Bộ Pháp thuật chỉ hiện thân để cho vị Thủ tướng đương nhiệm của dân Muggle biết mà thôi” - Fudge đáp và cất đũa phép vào trong áo jacket của ông ta -Chúng tôi biết cách giữ bí mật.”

- “Vậy thì …” – ngài Thủ tướng thì thào: “Tại sao ông Thủ tướng tiền nhiệm lại không báo trước điều này với tôi?”

Đến đây, Fudge cất tiếng cười thoải mái.

- “Thưa ngài Thủ tướng đáng kính của tôi. Vậy ngài có đến nói với ai về chuyện này không?”

Chỉ một thoáng sau, Fudge ném một thứ bột gì đó vào bếp lò rồi bước thẳng vào ngọn lửa cháy sáng màu ngọc bích và biến mất cùng với tiếng gió hú u..u.

Ngài Thủ tướng vẫn còn đứng đó, bất động hoàn toàn. Khi đó, ngài chợt hiểu ra rằng, cho tới khi chết, ngài cũng chẳng dám đề cập đến chuyện này. Liệu có ai trên thế giới tin những điều như vậy hay không?

Trạng thái choáng váng dần đần cũng bớt đi. Rồi thời gian trôi đi, ngài cố thuyết phục bản thân mình rằng, tay Fudge chẳng qua chỉ là một ảo giác. Sở dĩ ảo giác này xuất hiện là do ngài đã bị thiếu ngủ nhiều đêm vì vận động tranh cử. Trong một nỗ lực vô vọng nhằm giải thoát bản thân khỏi những ám ảnh về cuộc chạm trán khó chịu đó, ngài đã đem con chuột nhắt tặng cho đứa cháu gai của ngài vì nó thích; còn với bức tranh xấu xí kia, ngài đã chỉ thị cho thư ký riêng của mình gỡ nó xuống. Tuy nhiên, ngay lập tức ngài đã mất hết can đảm, vì bức tranh đã chứng minh cho ngài thấy rằng: việc gỡ nó xuống là không thể! Lần lượt vài tay thợ mộc, rồi một hoặc hai gã thợ xây gì đấy, kế đó là một nhà lịch sử nghệ thuật và rồi thì một trạng sư bên Kho bạc…tất cả đều ra sức bậy bức tranh ra khỏi tường. Và tất cả đều thất bại. Ngài Thủ tướng cuối cùng cũng bỏ mặc nó và quyết định lờ đi không nghĩ đến nó nữa. Vả lại, ngài cũng hy vọng rằng, nó sẽ bất động và câm lặng đúng như ngài mong muốn. Thỉnh thoảng, ngài thề với mình rằng, ngài đã nhìn thấy chủ nhân của bức tranh ngáp dài hoặc gãi gãi vào cái mũi của gã, hoặc đơn giản là bước ra khỏi khung treo để rồi biến đi đâu mất,dường như lặn vào đằng sau lớp vải sơn dầu mầu nâu bẩn. Mặc dù, ngài ép buộc bản thân không nhìn vào bức tranh nhiều nữa, và luôn tự nhủ rằng, cặp mắt của ngài đã đánh lừa ngài, và trên thực tế, chẳng có điều gì tương tự xảy ra cả.

Vậy mà thấm thoắt đã 3 năm trôi qua kể từ cái đêm cũng giống như đêm nay: ngài Thủ tướng đang ở một mình trong văn phòng và bức tranh chân dung, lại một lần nữa thông báo về chuyến viếng thăm ngay lập tức của Fudge – người đã vọt ra từ lò sưởi với một bộ dạng ướt sũng và hoảng loạn. Chưa kịp cất tiếng hỏi vì sao ông “Bộ chửng” lại ướt sũng từ đầu đến chân như vậy, thì Fudge đã thao thao bất tuyệt kể về một cái nhà tù nào đó mà ngài Thủ tướng chưa từng nghe đến; rồi thì một nhân vật tên láng máng “Serious” Black gì đó; lại còn cái trường “Hogwarts” và một thằng bé tên là Harry Potter…Tất cả những cái đó đối với ngài Thủ tướng thật mù mờ.

- “…Tôi vừa về từ nhà ngục Azkaban” – Fudge vừa hổn hển vừa rũ nước ra khỏi vành mũ quả dưa của ông ta. Nước rớt rào rào vào túi của ông. - “Ngài biết không, Đó là một khu vực nằm giữa biển Bắc; một chuyến bay tồi tệ… những tế Giám ngục đang nổi loạn”. Ông đột nhiên rùng mình: “…Chúng chưa bao giờ phá vỡ luật lệ như vậy. Dù sao tôi vẫn phải đến gặp ngài, thưa Thủ tướng. Kẻ có tên là Black được biết đến như một tên sát thủ đối với dân Muggle; có thể hắn ta sẽ liên kết với Người - mà ai - cũng biết…. Dĩ nhiên, ngài chưa từng biết Người - mà ai - cũng biết là ai, phải không?”. Ông ta nhìn chằm chằm vào vị Thủ tướng với ánh mắt hy vọng; sau đó ông ta nói tiếp: “Thôi được rồi, ngồi xuống đi, ngồi xuống đi. Tốt hơn cả là tôi sẽ làm cho ngài rõ…Những trước hết phải làm tý chút rượu whiskey…đã”.

Ngài Thủ tướng khá bực bội vì có người cả gan bảo ngài ngồi xuống ngay trong công sở của ngài; lại còn mời cả rượu whiskey nữa…thật là quá quắt! Nhưng Ngài vẫn nín thinh. Fudge rút đũa phép ra và phù phép. Hai 2 chiếc cốc lớn hiện ra trong không khí. Chúng chứa đầy thứ chất lỏng màu hổ phách lóng lánh. Ông đẩy một chiếc cốc vào tay ngài Thủ Tướng và kéo một chiếc ghế để đặt đít ngồi.

Fudge đã lải nhải hơn một tiếng đồng hồ. Đột nhiên ông ta xuống giọng thì thào và từ chối nói ra một cái tên nào đó. Thay vào đó ông ta viết cái tên đó vào một mẩu giấy và díu mẩu giấy đó vào cái tay không cầm cốc của ngài Thủ Tướng. Cuối cùng thì ông ta cũng nhấc mình đứng dậy để về. Ngài Thủ tướng cũng đứng dậy. “Ông cho là…” – ngài Thủ tướng liếc qua cái tên ghi trong tờ giấy mà ông đang cầm trong tay – “Chúa tể Vol…”

- “Không - được - gọi tên - người ấy – ra!” Fudge gầm lên.

- “Tôi xin lỗi, như vậy ông cho rằng “Người không được phép gọi tên” ấy vẫn còn sống?”

- “Đúng thế, cụ Dumbledore nói rằng ngài vẫn còn sống,” Fudge trả lời và kéo phẹc mơ tuya chiếc áo choàng kỹ sĩ lên tận cằm: “Nhưng chúng tôi chưa bao giờ tìm thấy ngài. Nếu ông hỏi tôi, tôi có thể cho ông biết rằng, Ngài sẽ không nguy hiểm trừ phi ngài tìm được ai đó trợ giúp. Bởi vậy việc Black vượt ngục đã khiến chúng tôi hết sức lo lắng. Bây giò thì ngài đã hiểu đó là lời cảnh báo rồi chứ? Tốt lắm, tôi hy vọng chúng ta sẽ không gặp lại nhau nữa, thưa ngài Thủ tướng, chúc ngủ ngon!”.

Thế nhưng họ vẫn tiếp tục gặp nhau nữa. Sau đó khoảng một tháng, Fudge với dáng vẻ phiền muộn đột nhiên xuất hiện từ không khí, ngay trong căn phòng làm việc của ngài Thủ tướng. Ông ta phàn nàn khó chịu về Cúp Thế giới Kic - dit gì đó (hay một cái tên nào đó nghe tương tự như vậy). Một vài người Muggles đã “dính líu đến” vụ này. Và ông ta an ủi ngài Thủ tướng rằng: đừng lo lắng, dù sao thì việc gọi lên cái dấu hiệu đen cũng chẳng có ý nghĩa gì mấy. Ông ta quả quyết với ngài rằng, những vụ việc trên chẳng liên quan gì đến nhau, và Văn phòng Quan hệ với dân Muggle đang sửa đổi trí nhớ cho những người dân này.

- “ồ, chút nữa thì tôi đã quên” - Fudge nói thêm. “Chúng tôi đang chờ nhập khẩu 3 con rồng nước ngoài và một con Nhân sư cho cuộc thi đấu Tam Pháp Thuật – một cuộc thi theo thông lệ ấy mà. Tuy nhiên những người ở Ban điều phối và Kiểm soát những sinh vật huyền bí nói với tôi rằng làm như vậy là vi phạm vào Bộ luật. Chính vì thế tôi đến để lưu ý trước với ngài rằng, việc đưa những sinh vật đặc biệt nguy hiểm vào đất nước, có thể sẽ gây ra những hậu quả đáng tiếc”.

- “Cái gì..những con rồng?..Ngài Thủ tướng lắp bắp.

- “Vâng, ba con,” Fudge trả lời. “Và thêm một con Nhân sư nữa. Thôi chào nhé, chúc ngài một ngày tốt lành!”

Ngài Thủ tướng hy vọng rằng tin tức về những con rồng và Nhân sư là những tin kinh khủng nhất mà ngài từng nghe, và không thể có tin nào xấu hơn thế nữa. Nhưng ngài đã nhầm. Chỉ chưa đầy 2 năm sau đó, Fudge lại vọt ra từ ngọn lửa, lần này thì ông mang đến cái tin: đã xảy ra vụ vượt ngục hàng loạt từ nhà tù Azkaban.

- “Một cuộc vượt ngục tập thể?” – ngài Thủ tướng hoảng hốt đay lại.

- “Không nên sợ hãi đến như vậy, không nên…!” Fudge gào lên và một chân của ông ta đã đặt vào ngọn lửa để rút chạy. “Chúng tôi còn chưa kịp giải quyết vụ này, và điều gì sẽ xảy ra, chắc tự ngài cũng suy đoán được!”

Và trước khi ngài Thủ tướng kịp mở miệng, Fudge đã chẹn họng: “Hiện giờ thì Ngài phải chờ đợi thôi!”. Nói xong ông ta biến mất vào trong bông hoa lửa màu xanh lá cây đang rớt xuống rào rào.

Bất cứ điều gì mà báo chí cũng như phe đối lập tuyên bố cũng chẳng thể làm cho ngài Thủ tướng trở nên rối trí. Đầu óc của ông đã bị neo vào lời cảnh báo đó, bất chấp việc Fudge khẳng định là họ sẽ không gặp nhau nữa, ngay trong lần gặp mặt đầu tiên. Vậy mà bây giờ họ lại thường xuyên gặp nhau nhiều hơn, và cứ mỗi lần thăm viếng tiếp theo thì Fudge lại càng trở nên bối rối hơn. Ngài thoáng nghĩ về vị Bộ trưởng Bộ Pháp thuật (hay Ngài thầm gọi là “một vị bộ trưởng khác”) và cảm thấy lần gặp gỡ nào ngài cũng mất hết ý trí và trở nên bất lực. Nỗi lo sợ về mỗi lần viếng thăm là tin tức ngày càng trở nên xấu đi.

Và lần này nữa, Fudge lại bước ra từ ngọn lửa. Đầu tóc ông ta rũ rượi, khuôn mặt đầy cáu kỉnh. Ông ta nhìn ngài một cách nghiêm khắc và lấy làm lạ vì sao ngài lại không hiểu lý do thăm viếng của ông ta. Chính là vì cái tuần lễ khốn kiếp và u ám nhất trên đời ấy.

- “Làm sao mà tôi biết được những gì đã xảy ra trong cộng đồng, e hèm… “phù thuỷ” của ngài được?” – vị Thủ tướng cắn cảu. “Tôi có đất nước của tôi, và tôi phải điều hành nó, thế cũng đã đủ mệt rồi, còn vơ lấy những điều phiền toái khác để làm gì…”

- “Chúng ta có cùng những mối quan tâm chung, thưa ngài”. Fudge cắt lời. “Cây cầu Brock bắc ngang thung lũng không phải do cũ nát mà sụm xuống đâu! Lại còn cơn cuồng phong nữa chứ. Đó không phải là cơn bão thật sự đâu. Những vụ giết người cũng chẳng phải do dân Muggles làm ra đâu. Và với gia đình Herbert Chorley có lẽ đã an toàn nhưng với anh ta thì không. Chúng tôi hiện đang bố trí để chuyển anh ta đến Bệnh viện Thánh Mungo – nơi chuyên chữa những tai nạn và thương tích liên quan đến pháp thuật. Việc điều chuyển sẽ được thực hiện ngay trong tối nay”.

- “Các ngài đã làm ra trò gì vậy…Tôi, tôi e là…” - Ngài Thủ tướng đột nhiên rít lên.

Fudge thở một cái rõ mạnh, rõ sâu và nói: “Ngài Thủ tướng, tôi rất lấy làm tiếc khi phải thông báo với ngài rằng – Hắn đã quay trở lại. Kẻ - không - được phép - gọi tên ấy - đã quay trở lại rồi”.

- “Quay trở lại? Ông nói thế có nghĩa là hắn ta vẫn còn sống? ý tôi là..”

Ngaì Thủ tướng dò dẫm lại trí nhớ về những tình tiết của cuộc trò chuyện kinh khủng đã diễn ra cách đây 3 năm về một gã phù thuỷ nào đó mà mọi người đều sợ hãi. Một tay phù thuỷ đã thực hiện hàng nghìn vụ tội phạm trước khi biến mất một cách bí ẩn 15 năm trước đây.

- “Đúng, vẫn sống”. Fudge đáp. “Quả thật đó là điều mà tôi không thể hiểu nổi. Làm sao mà một người đã bị giết rồi lại vẫn còn sống được. Cụ Dumbledore không giải thích một cách rõ ràng cho lắm. Nhưng dù sao, chắc chắn là hắn đã kiếm được một thể xác để trú ngụ và để mà đi lại, nói năng và còn để giết người nữa. Như vậy, tôi cho rằng, lý do của buổi thảo luận hôm nay là việc hắn còn sống. Đúng vậy, hắn vẫn còn sống”.
Ngài Thủ tướng không biết phải nói làm sao trong lúc này. Nhưng thói quen cố hữu là tọc mạch về bất cứ vấn đề gì đã khiến ngài phải dỏng tai lên hớp lấy bất cứ tình tiết nào trong những cuộc nói chuyện trước kia.

- ” Có phải là tên Nghiêm trọng Black (ngài đọc trệch tên Sirius thành Serious tức Nghiêm Trọng ) đã liên kết được với Kẻ - không - được - phép - gọi - tên rồi?”

“Black? Black nào?” - Fudge xoay xoay chiếc mũ của ông ta một cách điên cuồng trên đầu ngón tay. “ý Ngài muốn nói là Sirius Black ấy à? Con chim ưng rậm râu ấy ư? không đâu, Black đã chết rồi! Hoá ra chúng tôi đã lầm lẫn về Black. Anh ta hoàn toàn vô tội. Anh ta cũng chẳng cùng phe với Kẻ - không - được - phép - gọi - tên. ý tôi muốn nói như vậy” - Ông ta chống chế, trong khi vẫn quay ngày càng nhanh chiếc mũ quả dưa trên tay: “Tất cả những chứng cớ đã cho thấy, chúng tôi đã có trong tay 50 nhân chứng sống. Nhưng dẫu sao thì, è.. è…anh ta đã chết rồi. Giết người chỉ là chuyện cơm bữa thường thấy trong bản tường trình của Bộ Pháp thuật. Hiện nay, Chúng tôi đang tiến hành một đợt thẩm vấn…”

Thật ngạc nghiên, chính vào thời điểm này, ngài Thủ tướng thấy thoáng gợn lên tình cảm thương hại đối với Fudge. Tuy nhiên, tình cảm đó ngay lập tức biến mất trước sự đắc thắng đang trào dâng trong đầu óc ngài. Ngài nghĩ rằng, hạn chế của ngài là không biến được vào trong ngọn lửa như Fudge, tuy nhiên ngài chẳng bao giờ phải đương đầu với những vụ giết người trong các chi nhánh thuộc sở nhiệm của ngài..dẫu sao thì điều đó đã không xảy ra, bằng bất cứ giá nào cũng xin chúng đừng xảy ra…

Trong khi ngài Thủ tướng đang kín đáo xát nhẹ lên chiếc bàn gỗ của ngài thì Fudge vẫn tiếp tục nói: “Nhưng Blacks đã tiêu tùng rồi. Vấn đề quan trọng hiện nay là chúng ta đang ở trong tình trạng chiến tranh, thưa ngài Thủ tướng; và bởi vậy, chúng ta cần hành động từng bước một”.

- “Trong tình trạng chiến tranh?” – ngài Thủ tướng nhắc lại một cách bàng hoàng: “Ông có chắc là đã không cường điệu quá lên không đấy?”

“Kẻ - không - được - phép - gọi - tên hiện giờ đã tập hợp được những tên đồng bọn. Nhưng tên này đã vượt ngục Azkaban vào tháng bảy” – Fudge nói giọng ngày càng gấp gáp và quay càng nhanh chiếc mũ quả dưa của mình đến nõi nó đã trở thành màu xanh lơ. “Kể từ khi từ trong bóng tối bước ra, chúng đã tiến hành nhiều cuộc trả thù tàn ác. Cây cầu Brockdale – chính là do hắn làm gẫy, thưa ngài Thủ Tướng – hắn còn đe doạ sẽ tiến hành giết hàng loạt dân Muggle nếu tôi không đứng về phía hắn!”

- “Thật đáng tiếc, đây chính là lỗi của các ông vì đã để xảy ra những vụ giết người. Trong khi đó người ta lại chất lên đầu tôi vô số những chất vấn về trạng thái rỉ sét và bị gặm mòn của những chiếc dầm sắt nối cầu, mà hiện giờ tôi vẫn không biết phải trả lời thế nào nữa”– Ngài Thủ tướng gào lên giận dữ.

- “Ngài bảo rằng đấy là lỗi của tôi ư” – Fudge nổi đoá lên. “Liệu ngài có dám chắc rằng ngài sẽ biết tất cả những hang ổ của bọn hăm doạ khủng bố hay không?”

- “Chắc là không rồi” – Ngài Thủ tướng trả lời. Ngài đứng dậy và đi đi lại lại trong phòng: “Nhưng nếu là tôi, tôi sẽ nỗ lực hết sức để bắt cho được kẻ khủng bố đó trước khi hắn ra tay thực hiện tội ác!”

- “Ngài thật sự nghĩ rằng tôi đã thiếu cố gắng à?” – Fudge vặc lại một cách giận dữ. “Bất cứ vị Thần sáng nào trong Bộ của chúng tôi cũng đều ra sức tìm kiếm hắn và đám đồng bọn vây quanh hắn. Tuy nhiên, chúng tôi đang phải đối mặt với những tên phù thủy hùng mạnh nhất của mọi thời đại, và phải đương đầu với một tên phù thuỷ vốn đã ung dung đứng ngoài vòng pháp luật hơn ba mươi năm nay!”

- “ồ, tôi cho rằng, đã đến lúc ngài cho tôi biết về nguyên nhân của cơn cuồng phong tại đất nước Miền Tây chứ?” – Ngài Thủ tướng nói với một tâm trạng giận dữ ngày một tăng lên cùng với những bước chân đi đi lại lại. Thật là điên máu khi biết được nguyên nhân thật sự của tất cả những thảm họa nói trên, nhưng lại không có cách nào để giải thích với công chúng. Trong khi, người ta lại đổ vấy mọi tội lỗi lên Chính phủ của ngài.

- “Đó không phải là một trận cuồng phong thực thụ đâu!” - Fudge đau khổ thú nhận.

- “Thứ lỗi cho tôi” – ngài Thủ tướng sủa nhặng lên: “Những cái cây bật gốc, những mái nhà bị tốc, những cột đèn bị đổ, những huỷ hoại hết sức khốc liệt..”

- “Đó tất cả là những gì do lũ Thần Thực Tử gây ra” – Fudge nói – “Những kẻ đi theo Kẻ - không - được - phép - gọi - tên. Và chúng tôi còn đồ rằng, bọn người khổng lồ cũng tham dự vào vụ này.

Ngài Thủ tướng đột nhiên sững lại, không bước tiếp, như thể đã húc phải một bức tường vô hình chắn lối: “Ngài nói cái gì đã dính líu vào?”
Fudge nhăn nhó: “Trong thời gian gần đây, hắn đã sử dụng đến những người khổng lồ để gây ra những sự kiện vĩ đại”. Ông ta nói tiếp: “Văn phòng về những thông tin thất thiệt đang làm việc suốt ngày đêm để xoá đi trí nhớ của tất cả những người dân Muggles về những gì mà họ đã chứng kiến. Còn Ban điều phối và kiểm soát các sinh vật huyền bí thì đang cày xới tung lên xung quanh vùng đất Somerset. Nhưng cho đến giờ chúng tôi vẫn chưa phát hiện ra được một tên khổng lồ nào. Đó thật sự là một thảm họa!”

- “Thôi ông đừng nói nữa!” – ngài Thủ tướng gào lên giận dữ.

- “Tôi cũng không phủ nhận là tinh thần làm việc của Bộ pháp thuật đã xuống cấp một cách thảm hại. Thêm vào đó lại còn vụ Amelia Bones mất tích nữa” – Fudge nói.

- “Ai mất tích?”

- “Amelia Bones, người Lãnh đạo Ban thừa hành Pháp luật phù thuỷ. Chúng tôi cho rằng, Kẻ - không - được - phép - gọi - tên đã giết chết bà ta trong tù vì bà ta là một phù thuỷ có tài. Thế nhưng tất cả những bằng chứng sau này lại cho thấy, bà ta đã nguỵ tạo ra một cuộc chiến đấu giả”. Fudge hắng giọng và dường như hết sức gắng gượng để làm cho cái mũ thôi không quay nữa.

“Nhưng vụ giiết người này đã đwocj đăng tải trên báo rồi cơ mà?” – ngài Thủ tướng nói, trong lúc cố kìm nén cơn giận đang trào lên. “Báo chí của chúng tôi viết rằng, Amelia Bones…là một người đàn bà trung niên, sống độc thân. Bà này đã bị giết một cách hết sức giã man, phải vậy không? Điều đó thì công chúng hầu như ai cũng biết. Còn các cảnh sát thì bó tay như Ông biết đấy”.

Fudge buông tiếng thở dài não nuột. “Đúng là công chúng đều biết về vụ này như vậy”, ông ta nói: “Bà này bị giết trong khi cửa phòng vẫn được khoá chặt từ bên trong, có đúng vậy không? Còn chúng tôi thì biết đích xác ai là người làm ra điều đó. Nhưng những hiểu biết ấy cũng chẳng làm cho chúng tôi tiến thêm được bước nào trong việc truy lùng hắn. Thế rồi thì nhân vật Emmeline Vance xuất hiện. Có lẽ ngài chưa bao giờ nghe qua cái tên này”…

- “ồ không, tôi đã từng!” – ngài Thủ tướng nói: “Một tờ nhật báo đã đưa tin ở đâu đó với hàng tít “sự vi phạm pháp luật và trật tự ngay tại sân sau của vị thủ tướng”.

- “Và như vậy vẫn chưa đủ đâu” – Fudge bồi tiếp trong khi thản nhiên nghe vị Thủ tướng nói. “Chúng tôi còn thấy bọn giám ngục kéo đàn kéo lũ khắp nơi, tấn công tất cả mọi người – bên phải, bên trái, chính giữa…”

Sẽ may mắn hơn nuếu như ngài Thủ tướng chẳng hiểu gì về câu nói đó cả. Nhưng bây giờ thật không may cho ngài là tâm trí của ngài trở nên sáng suốt hơn.

- “Tôi được biết, những tên giám ngục làm nhiệm vụ bảo vệ nhà tù Azkaban”, ông ta nói một cách e dè.

- “Đúng là chúng đã từng làm nhiệm vụ này” Fudge thốt lên chán nản. “Nhưng chúng không còn làm như vậy nữa. Chúng đã bỏ nhà tù và tham gia vào đội ngũ của Kẻ - không - được - phép - gọi - tên. Tôi không có ý nói đây là một cú đòn choáng váng”.

- “ông đã từng nói với tôi rằng, chúng là những sinh vật làm khô cạn hy vọng và hạnh phúc của mọi người, phải vậy không?” – ngài Thủ tướng nói mà không giấu nổi vẻ sợ hãi.

- “Đúng vậy. Chúng hút các linh hồn. Và cũng chính chúng đã làm ra lớp sương mù dày dặc như vậy vào giữa tháng bảy nóng bức”.

Vị Thủ tướng chao đảo, hai chân ngài khuỵu xuống và rơi tọt vào chiếc ghế bành bên cạnh. Sự mường tượng về cái cảnh những sinh vật không nhìn thấy tràn vào các thị trấn và các ngôi làng để phả lên các cử tri của ngài cái hơi thở của sự thất vọng, tuyệt vọng - đã khiến cho ngài lả đi.

- “Nào bây giờ thì ngài mãn nguyện chưa Fudge! Ngài đã để cho điều gì xảy ra thế này. Ngài sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm vì ngài là Bột trưởng Bộ pháp thuật!”

- “Thưa Ngài Thủ tướng thân mến, ngài không thể suy nghĩ một cách vô lương tâm như vậy. Liệu tôi có còn là Bộ trưởng nữa hay không sau khi tất cả những vụ việc đổ bể toé loe ra như thế? Tôi đã bị sa thải 3 ngày trước đây rồi! Toàn bộ cộng đồng phù thuỷ đã biểu tình la hét đòi tôi phải viết đơn từ chức nội nhật trong vòng 15 ngày. Tôi chẳng biết tại sao tất cả những bất hạnh ấy lại đổ dúng vào nhiệm kỳ mà tôi nhậm chức!” - Fudge gắng gượng hết sức để nặn ra một nụ cười.

Lúc này, ngài Thủ tướng không thể thốt lên được lời nào. Bên cạnh sự uất hận cái địa vị mà người ta đã giao cho ông, ở ông còn nảy sinh thứ tình cảm thương hại đối với người đàn ông đang gồi dúm dó trước mặt.

- “Thứ lỗi cho tôi,” cuối cùng ông cũng lên tiếng. “Liệu tôi có thể làm gì giúp được ông bây giờ?”

- “Ông tử tế với tôi qua, thưa Thủ tướng, nhưng ông chẳng giúp được gì sất. Người ta cử tôi đến đây để cập nhật thông tin cho ông về những sự vụ đang xảy ra và để giới thiệu người kế nhiệm tôi. Tôi đoán rằng, người ấy sẽ đến đây ngay bây giờ, mặc dù vào thời điểm này ông ta đang rất bận rộn với vô số những điều đang diễn ra”.

Fudge nhìn quanh quẩn vào bức chân dung vẽ người đàn ông xấu xí đội mái tóc giả dài màu bạch kim, lúc này đang bận rộn ngoáy tai bằng cái bút lông ngỗng. Bắt gặp ánh mắt của Fudge, bức chân dung nói, “Ông ta sẽ đến ngay bây giờ, ngay sau khi viết xong lá thư gửi cho cụ Dumbledore.”

- “Cầu chúc cho ông ta may mắn” Fudge nói, lần đầu tiên âm hưởng giọng nói của ông thể hiện đôi chút sự chua xót. “Tôi đã viết thư cho cụ Dumbledore hai lần mỗi ngày, trong suốt hai tuần qua, nhưng vẫn không thể nào lay chuyển được cụ. Nếu như cụ sẵn sàng thuyết phục đứa bé, thì có lẽ tôi vẫn còn trụ được …Thôi được, may ra thì Scrimgeour sẽ thành công hơn chăng…”

Fudge thu mình vào sự im lặng buồn bã. Đúng lúc đó, bức chân dung phá vỡ sự yên tĩnh bằng một giọng quả quyết kiểu mệnh lệnh: “Cần hội kiến với Thủ tướng của dân Muggles. Rất cần kíp và khẩn cấp. Xin được phúc đáp ngay lập tức. Rufus Scrimgeour, Bộ trưởng Bộ pháp thuật”.

“Vâng vâng, xin mời” – ngài Thủ tướng vội vã nói. Nhưng rõ ràng là ông ta rất ngại khi nhìn thấy ngọn lửa cháy rực màu xanh lá mạ bùng lên một lần nữa và nhả ra từ bếp lò một tay phù thủ nữa đang xoay tít như con quay và ném ông này vào tấm thảm trải sàn cổ kính.

Fudge đứng dậy sau một thoáng lưỡng lự. Ngài Thủ tướng cũng vậy. Ông nhìn thẳng vào kẻ mới đến và đang rũ tro bám vào tấm áo choàng dài màu đen và ngáo ngơ nhìn xung quanh.

Một thoáng ý nghĩ ngu ngốc bay trong đầu ngài Thủ tướng: “Gã này trông giống như một con sư tử già”. Trên cặp lông mày của ông này có những vệt xám xen lẫn với màu hung hung vàng. Ông ta có cặp mắt màu vàng, rất sắc bén, ẩn đằng sau cặp kính gọng kim loại, bộ râu được xén tỉa khá duyên dáng, còn bước đi có vẻ hơi khập khiễng. ấn tượng đập vào mắt nhất là sự thông minh sắc sảo và tính cánh kiên định của nhân vật mới này. Ngài Thủ tướng hiểu được vì sao liên đoàn phù thuỷ lại chọn ông này để thay Fudge trong thời khắc nguy hiểm này.

- “Xin chào” – ngài Thủ tướng nói một cách lịch sự và chìa tay ra.

Scrimgeour nắm lấy tay ngài một thoáng rồi buông ra, trong khi con mắt quét bốn phía căn phòng, sau đó rút từ trong nách áo choàng ra chiếc đũa phép.

“Chắc ông Fudge đã nói với ngài tất cả rồi chứ?” - Ông ta vừa hỏi vừa sải những bước dài đến cửa ra vào và dùng chiếc đũa phép gõ nhẹ lên ổ khóa. Ngài Thủ tướng nge thấy tiếng kêu “tách” của ổ khoá.

- “à ừ đã,” Ngài Thủ tướng nói. “Và nếu như ông không phiền, thì tôi vẫn muốn cái ổ khoá cửa mở ra chứ không đóng lại”.

- “Còn tôi thì không muốn cuộc nói chuyện bị cắt ngang”, Scrimgeour trả lời ngăn gọn, “hoặc bị nghe trộm,” ông ta nói thêm, đồng thời lần lượt trỏ đũa phép vào các cửa sổ để các tấm rèm tự động kéo xuống. “Được rồi đấy, tốt rồi, Tôi rất bận, cho phép tôi đi thẳng vào công việc. Trước hết, chúng ta cần bàn đến vấn đề an ninh của chính ông”.

Ngài Thủ tướng vươn người hết cỡ và đáp lại “Tôi hoàn toàn tin tưởng vào an ninh ở đây; theo tôi thế là đủ, cảm ơn vì ông đã quan tâm”.

“Không đâu, chúng ta chưa thật sự an toàn đâu” - Scrimgeour ngắt lời. “Cái ổ kháo này dễ dàng chống được dân Muggles. Nhưng tình thế sẽ khác hẳn nếu người ta ếm bùa mở kháo lên nó. Ông cần đến một thư ký mới khi đi ra ngoài công sở.”

“Tôi không muốn cho Kingsley Shacklebolt thôi việc, mặc dù ông yêu cầu tôi phải làm như vậy – ngài Thủ tướng nói một cách nhiệt tình. “Anh ta là một tay năng nổ làm việc gấp đôi hai thư ký thông thường”.

- “Bởi vậy anh ta mới là phù thuỷ” Scrimgeour nói mà không hề mỉm cười. “Đó là một vị Thần Sáng được đào tạo bài bản được chúng tôi gửi đến để bảo vệ ngài”.

- “Này, chờ tí đã!” ngài Thủ tướng kêu lên. “Các ông không thể cài người của các ông vào công sở của tôi được. ở đây tôi là người quyết định phải làm gì”.

- “Tôi nghĩ rằng ông đang hài lòng với Shacklebolt phải không?” Scrimgeour hỏi lại với giọng lạnh lùng.

- “Đúng là tôi có nói như vậy, chính xác hơn là tôi đã nói”

- “Vậy thì ở đây chẳng có điều gì xảy ra phải không?” Scrimgeour hỏi.

- “Với tôi ư.., nói chung tốt thôi…. chừng nào Shacklebolt còn được tiếp tục làm việc thì chừng đó mọi việc đều hoàn hảo cả…,” ngài Thủ tướng nói ngập ngừng, nhưng Scrimgeour rõ ràng là rất lắng nghe ông nói.

- “Bây giờ hãy nói về Herbert Chorley, một vị Bộ trưởng trẻ tuổi của ngài”, ông này tiếp tục. “Một nhân vật mà dưới con mắt công chúng thì giống như một con vịt, có phải không?”

- “Ông nói cái gì vậy?” Ngài Thủ tướng hỏi.

- “Anh ta rõ ràng là phản ứng hết sức vụng về khi thực hiện Lời nguyền Độc đoán”, Scrimgeour đáp. “Cái đó có thể làm cho anh ta quẫn trí, nhưng anh ta vẫn còn nguy hiểm lắm”.

- “Anh ta chỉ được cái tính ba toác thôi!” ngài Thủ tướng phản đối lại một cách yếu ớt. “Chắc tôi sẽ còn bị giữ chân ở đây lâu đây…Nếu được uống chút gì thì tốt”.

- “Một đội ngũ các Lương y của bệnh viện Thánh Mungo chuyên chữa các tai nạn và thương tích liên quan đến pháp thuật đã kiểm tra sức khoẻ của anh ta. Vậy mà anh ta cố xông vào xiết cổ ba người trong số họ”, Scrimgeour nói. “Tôi thấy, nên đưa anh ta ra khỏi xã hội một thời gian.”

- “Liệu làm như vậy có ổn không? Anh ta sẽ không sao chứ?” ngài Thủ tướng hỏi với vẻ sốt ruột.

Scrimgeour không trả lời mà chỉ nhún vai và bước về phía lò sưởi. “Đủ rồi, đó là tất cả những gì tôi cần trao đổi với ngài. Tôi sẽ liên lạc thường xuyên với ngài, hay ít ra nếu vì công việc quá nhiều mà tôi không trực tiếp gặp đựơc ngài, tôi sẽ cử Fudge đến đây. Ông ta đã ưng thuận đến đây làm cố vấn cho ngài”.

Fudge cố nở nụ cười nhưng không thành; quá lắm thì trông ông ta như bị đau răng vậy. Scrimgeour đã thọc tay vào túi áo để lấy ra thứ bột bí hiểm làm cháy bừng lên ngọn lửa màu xanh lá mạ. Ngài Thủ tướng thất vọng nhìn chằm chằm vào bọn họ hồi lâu, sau đó những chứa chất trong lòng vốn bị kìm nén lâu nay đột nhiên vỡ oà ra:

- “Dù gì đi chăng nữa thì các ông vẫn là phù thuỷ, các ông có thể làm ra điều kỳ diệu, bởi vậy, chắc chắn các ông cũng có thể giải quyết ổn thoả bất cứ việc gì!”

Scrimgeour chậm rãi quay lại trong khi chân vẫn dẫm lên trên đống tro. Ông anỳ trao đổi với Fudge bằng ánh mắt đầy hoài nghi. Còn Fudge lúc này đã được nở nụ cười thật sự khi nói với ngài Thủ tướng bằng một giọng thân thiện: “Rắc rối là ở chỗ, bên đối phương cũng biết làm pháp thuật như chúng tôi, thưa ngài Thủ tướng”.

Và sau câu nói đó, hai vị phù thuỷ nối đuôi nhau lần lượt bước vào ngọn lửa chói sáng màu lá mạ và tan biến vào hư không.

Chương 2:
Spinner’s End
Ngõ Cụt Thợ Tiện

Cách đó hàng dặm, những cơn gió sau khi đã đập vào cánh cửa sổ phòng Thủ tướng đã tràn ùa trên mặt con sông với hai bờ sông bẩn thỉu nằm giữa những làn cây và cả những đống rác. Bóng đen tràn ngập khung cảnh, và một chiếc cối xay gió quay điên cuồng, mờ ảo như đang cố báo hiệu điềm chẳng lành. Không gian yên ắng và không có dấu hiệu của sự sống nào ngoài tiếng róc rách của dòng nước đen đang chảy và một con cáo chỉ còn da bọc xương đang loay hoay dưới cái rãnh nước đánh hơi, hy vọng tìm được một con cá hay thứ gì ăn được trong những cụm cỏ mọc cao.

Nhưng đột nhiên, sau một tiếng nổ bất thình lình, một thứ gì đó nhỏ bé, đội mũ trùm kín đầu xuất hiện trong làn sương mỏng trên bờ của dòng sông. Con cáo cũng đứng yên lại, mắt dò xét lên mọi vật xung quanh cái thứ kỳ lạ mới xuất hiện. Kẻ lạ mặt đó cũng có vẻ chịu đựng thái độ dò xét ấy một lát, và rôi bừng sáng lên, người này bắt đầu chạy, áo choàng lê trên đám cỏ.

Bằng một tiếng nổ thứ hai to hơn, một kẻ trùm đầu khác xuất hiện.

“Chờ đã!”

Con cáo giờ đang bò sát duới mặt đất lại bị một tiếng rên rỉ khàn khàn làm giật mình. Nó liều nhảy qua chỗ đang trốn đến chỗ cái rãnh nước. Một tia chớp màu xanh bắn ra, con cáo ré lên, rồi ngã xuống đất, chết.

Kẻ lạ mặt thứ hai trở ra hất xác con cáo lên.

“Chỉ là một con cáo,” một giọng phụ nữ thô lỗ phát ra dưới mũ trùm đầu. “Thế mà ta cứ nghĩ là một Thần Sáng cơ đấy — Cissy, chờ chị!”

Nhưng người đàn bà kia, kẻ vừa quay lại nhìn ánh chớp, lại đã kịp chạy vút về phía cái lạch nơi con cáo vừa té xuống.

“Cissy — Narcissa — nghe chị —”

Người đàn bà thứ hai năm lấy tay bà ta, nhưng bị giằng ra.

“Bella, trở lại!”

“Mày phải nghe chị !”

“Em đã nghe rồi. Em có quyết định của em. Để em yên!”

Người đàn bà tên Narcissa chạy đến phía trên cái rãnh nước, nơi một hàng rào cũ kỹ đã tách nhánh sông khỏi con đường nhỏ rải đá cuội. Người đàn bà kia, Bella, lập tức theo sau. Hai người cùng đứng trước hàng rào chắn con đường đầy nhà xiêu vẹo đổ nát xếp thành dãy, cửa sổ mờ đục và chẳng nhìn thấy gì nơi bóng tối.

“Gã sống ở đây à?” Bella hỏi với giọng khinh bỉ. “Đây ư? Giữa cái đống phân Muggle này? Chúng ta hẳn phải là những kẻ đầu tiên thuộc hàng ngũ này đặt chân lên — ”

Nhưng Narcissa không nghe; bà ta đã lách nhanh qua được cái hàng rào cũ nát và đang vội vã chạy ngang con đường.

“Cissy, chờ đã!”

Bella chạy theo, áo choàng hất tung lên phía sau, và nhìn Narcissa lao tới một cái ngõ giữa những ngôi nhà vào một con đường thứ hai, gần như giống hệt. Một số đèn đường dã vỡ, hai người đàn bà chạy giữa những khoảng sáng tối mập mờ. Người theo sau đã bắt kịp kẻ chạy trước khi họ quẹo vào ngõ rẽ khác, lần này thì thành công bởi bà ta đã giữ chặt tay kẻ chạy đi và kéo lại để hai người nhìn thẳng vào mặt nhau.

“Cissy, mày không được làm thế, mày không được tin hắn — ”

“Nhưng Chúa tể Hắc ám tin, phải không?”

“Chúa tể Hắc ám thì… tao tin là… đã nhầm,” Bella hổn hển, và mắt của bà ta ánh ra một thứ ánh sáng yếu ớt từ cái mũ vải trùm đầu khi nhìn quanh để xem rằng có chắc họ chỉ có hai người ở chốn này hay không. “Trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta đã được giao nhiệm vụ không được nói kế hoạch cho bất cứ ai. Đó là phản bội Chúa tể Hắc ám — ”

“Để em đi, Bella!” Narcissa cằn nhằn, người đàn bà giơ đũa phép rút ra phía dưới tấm áo choàng, chĩa nó vào mặt người chị. Bella chỉ cười khẩy.

“Cissy, chị của mày ư? Mày sẽ không — ”

“Chẳng có gì em không dám làm nữa!” Narcissa hổn hển, kèm một tiếng thở hắt trong giọng nói, và khi người đàn bà vung cây đũa phép như vung con dao, ánh chớp từ cây đũa phép loé lên. Bella thả tay em mình ra - giờ đã nóng bừng lên rồi.

“Narcissa!”

Nhưng Narcissa đã chạy trước rồi. Giằng tay chị ra, bà ta lại chạy miết, luôn giữ một khoảng cách với Bella, họ lạc vào mê lộ của những dãy nhà gạch. Cuối cùng, Narcissa chạy được đến đường Spinner’s End, nơi những ống khói cối xay cao vút trong như dấu hiệu cảnh cáo của một ngón tay khổng lồ. Tiếng bước chân vang vọng lộp cộp trên khắp con ngõ nhỏ, đến khi bà chạy đến cái nhà cuối cùng của con ngõ, nơi một thứ ánh sáng chập chờn phát ra phía sau bức màn che ở tầng dưới.

Bà gõ cửa trước Bella, miệng lẩm bẩm chửi rủa vì bị đuổi kịp. Cả hai đều đứng chờ, thở hổn hển khe khẽ; họ đều phải ngửi mùi của con sông bẩn thỉu mà làn gió đêm đưa lại. Sau vài tích tắc, họ nghe thấy tiếng chân đi lại trong nhà và rồi cánh cửa mở hé ra một cái két. Một cái liếc xéo của một người đàn ông qua họ, một người với bộ tóc dài thật dài, đen xoã thành từng nhánh che cái mặt vàng ủng và đôi mắt màu đen.

Narcissa lật chiếc mũ trùm ra. Làn da trắng nhợt đến nỗi trông như sáng lên trong bóng tối và mái tóc dài vàng óng xoã xuống làm cho bà ta trông càng giống người chết đuối.

“Narcissa!” Người đàn ông nói, mở cửa to chút nữa, ánh sáng chiếu rõ bà và người chị. “Thật là một bất ngờ thú vị!”

“Severus,” bà nói khẽ bằng một giọng lạnh lùng. “Chúng ta có thể nói chuyện không? Có việc gấp.”

“Tất nhiên. ”

Ông lùi lại để người đàn bà đi qua ông vào căn nhà. Người chị vẫn-còn-trùm-đầu thì cứ thế vào chẳng cần mời mọc gì cả.

“Snape,” bà nói cộc lốc khi đi qua ông.

“Bellatrix,” ông trả lời, miệng của ông vênh lênh điệu cười khinh khi lúc ông khép cửa đánh sập.

Họ đi thẳng đến một phòng khách nhỏ bé lót gỗ, nơi có cảm giác của bóng tối lạnh lẽo. Xung quanh tường đều có sách đặt kín trước, hầu hết đều được bọc bằng da thuộc màu nâu hoặc đen; trong phòng còn có một cái ghế bành đã sờn, một cái ghế tựa cũ kỹ, một cái bàn lung lay, tất cả dưới ánh sáng lờ mờ của cây đèn cầy treo trên trần. Nơi đây có vẻ như bị bỏ bê khá lâu rồi, vì thực tình cũng chẳng ai ở thường xuyên lắm.

Snape ra dấu mời Narcissa ngồi xuống ghế bành. Bà ta quẳng cái áo choàng sang một bên, ngồi xuống, nhìn chằm chằm vào bàn tay trắng run lập cập đang co vào vạt áo. Bellatrix từ từ kéo mũ xuống. Trong bóng tối, trông bà ta cũng đẹp như người em mình, với một đôi mắt sùm sụp và một cái quai hàm khá là vững chắc, bà không thèm để ý ánh mắt của Snape khi đi đến đứng sau Narcissa.

“Vậy, tôi có thể giúp gì cô?” Snape hỏi, và ngồi xuống cái ghế tựa đối diện hai chị em.

“Chúng ta… chỉ có chúng ta ở đây thôi, hả?” Narcissa hỏi khẽ.

“Phải, tất nhiên rồi. À, Đuôi Trùn ở đây, nhưng chúng ta không thèm tính bọn côn trùng nhãi nhép, đúng không?”

Ổng trỏ cây đũa phép vào bức tường chất đầy sách và với một tiếng nổ đoàng, một cái cửa bí mật mở toang ra, làm hiện lên một cầu thang hẹp, trên đó một kẻ nhỏ bé đang đứng chết lặng.

“Ngươi biết rồi đấy, Đuôi Trùn, nhà ta có khách,” Snape nói một cách lười nhác.

Kẻ gù lưng kia rón rén đi những bước cuối của bậc thang để xuống căn phòng. Hắn có một đôi mắt nhỏ, ồng ộng những nước, một cái mũi nhọn, và có trên môi một nụ cười gượng gạo. Tay trái xoa xoa vào tay phải, người ta có thể nhìn thấy được thế mặc dù hắn đang mang một chiếc găng tay bạc.

“Narcissa!” hắn nói bằng cái giọng chút chít nghe như chuột kêu. “Và Bellatrix nữa! Quyến rũ làm sao — ”

“Đuôi Trùn sẽ phục vụ nước uống, nếu các cô yêu cầu,” Snape nói. “Và sau đó sẽ phải lập tức trở về phòng ngủ của hắn.”

Đuôi Trùn co rúm lại như thể Snape vừa ném cái gì vào mặt hắn.

“Tôi không phải là thằng hầu của ông!” Hắn giãy nảy kêu lên the thé, nhưng vẫn tránh ánh mắt của Snape.

“Vậy ư? Vậy ta tưởng Chúa tể Hắc ám sai ngươi đến đây để giúp việc cho ta.”

“Để giúp việc, đúng — nhưng không phải để pha nước và — lau nhà cho ông!”

“Ta không nghĩ, Đuôi Trùn à, là ngươi được phái đến đây để làm việc gì nguy hiểm hơn thế,” Snape đường mật. “Điều này có thể thoả thuận một cách dễ dàng: Ta sẽ thưa lại với Chúa tể Hắc ám rằng — ”

“Tôi sẽ tự nói với Ngài nếu tôi muốn!”

“Tất nhiên là ngươi có thể,” Snape nhạo báng. “Nhưng bây giờ, thì phục vụ nước ra đây ngay. Mang rượu gia tinh làm cũng được.”

Đuôi Trùn chần chừ một lát, trông như thế là hắn sẽ bất tuân, nhưng sau đó đành miễn cưỡng quay đi và đi vào một bức tuờng được nguỵ trang khác. Họ nghe thấy tiếng cốc chén lách cách. Sau vài giây hắn trở lại, khệ nệ mang theo một cái chai đầy bụi bặm và ba cái cốc đặt trên một chiếc khay. Hắn đặt cái khay xuống cái bàn lung lay và lẩn đi tránh sự hiện diện của mọi người, đoạn đóng cái cửa nguỵ trang bằng giá sách đánh rầm.

Snape rót loại rượu đỏ như máu vào ba cốc và mời hai chị em. Narcissa khẽ cảm ơn, trong khi đó Bellatrix chẳng nói chẳng rằng, nhưng vẫn tiếp tục nhìn chằm chặp vào Snape. Nhưng Snape vẫn chẳng bị điều đó làm bối rối, ngược lại ông ta còn ra vẻ rất thoải mái vui vẻ.

“Uống vì Chúa tể Hắc ám,” ông nói, giơ cốc rượu và làm cạn.

Hai chị em làm y chang thế. Snape rót đầy lại các cốc. Khi Narcissa nốc đến cốc thứ hai bà giận giữ:

“Severus, tôi rất tiếc phải đến đây trong hoàn cảnh này, nhưng tôi phải gặp anh. Tôi nghĩ anh là người duy nhất có thể giúp — ”

Snape giơ tay lên để dừng lời của bà, rồi chỉ đũa thần vào cái cửa thang gác. Cái cửa phát nổ đoàng cùng một một tiếng thét lớn, sau đó là tiếng Đuôi Trùn chạy lốc thốc khỏi cầu thang.

“Xin lỗi,” Snape nói. “Cái loại này nó cứ thích nghe lén ở cầu thang, tôi chẳng biết nó gặt hái được cái gì cơ chứ… Cô đang đến đâu vậy, Narcissa?”

Bà ta hít thật sâu, rùng mình, và bắt đầu lại.

“Severus, tôi biết tôi không nên có mặt ở đây, tôi đã được bảo là không được kể chuyện này cho ai, nhưng —”

“Thế thì hãy câm miệng lại!” Bellatrix cằn nhằn. “Đặc biệt là với cái loại đồng bọn thời nay.”

“Đồng bọn thời nay?” Snape nhạo báng. “Và tôi phải hiểu câu đó của cô thế nào đây?”

“Là ta không tin ngươi, Snape, ngươi biết điều đó quá rõ mà!”

Narcissa bật ra một tiếng như nức nở và lấy tay che mặt. Snape bỏ kính xuống bàn và ngồi lại, tay để lên thành ghế, cười vào cái mặt đang nhìn trừng trừng của Bellatrix.

“Narcissa, tôi nghĩ cô nên lắng nghe những gì Bellatrix đang định xổ ra; việc đó giúp chúng ta khỏi phải chịu sự gián đoạn chán ngắt này. Nào, tiếp tục đi, Bellatrix,” Snape nói. “Tại sao cô không tin tôi vậy?”

“Có hàng trăm lý do!” Bà ta quát to, vòng từ sau ghế bành ra để ném cái kính xuống mặt bàn. “Nên bắt đầu từ đâu bây giờ! Ngươi ở đâu khi Chúa tể Hắc ám ra đi? Sao ngươi không tìm kiếm Ngài khi Ngài biến mất? Ngươi đã làm gì ngần ấy năm khi núp bóng lão Dumbledore? Sao ngươi lại ngăn không cho Chúa tể Hắc ám lấy Hòn Đá Phù thuỷ? Sao ngươi không nhập phe ngay lập tức khi Ngài trở lại? Ngươi ở đâu mấy tuần trước cái ngày bọn ta phải chiến đấu để lấy Lời tiên tri cho Chúa tể Hắc ám? Và, Snape, tại sao thằng nhãi Harry Potter vẫn còn sống, khi ngươi ban cho nó cái ân huệ suốt năm năm qua?”

Bà ta ngừng lại, trống ngực đập cực nhanh, má ửng đỏ hết cả. Sau bà, Narcissa ngồi bất động, mặt vẫn vùi vào tay.

Snape cười.

“Trước khi tôi trả lời - ồ có chứ, Bellatrix, tôi sẽ trả lời ngay! Cô có thể chuyển lại câu trả lời của tôi cho tất cả những kẻ khác - bọn vẫn xì xầm sau lưng tôi, và đi tâu hót với Chúa tể Hắc ám! Nhưng trước đó, tôi đã nói rồi, để tôi hỏi cô một câu đã. Cô thật sự nghĩ là Ngài đã không chất vấn gì tôi những vấn đề đó ư? Và cô cho rằng, tôi đã không thể đưa ra câu trả lời thuyết phục mà vẫn còn có thể ngồi đây nói chuyện được với cô hả?”

Bà ta do dự.

“Ta biết là Ngài tin ngươi, nhưng… ”

“Cô nghĩ là Ngài nhầm sao? Hay là tôi đã bịp Ngài? Nói dối Chúa tể Hắc ám, pháp sư vĩ đại nhất, người có pháp thuật hoàn mĩ nhất mà cả thế giới biết được cho đến nay?”

Bellatrix im lặng, nhưng lần đầu tiên đã trông có vẻ hơi chưng hửng. Snape không nhấn mạnh vào điểm đó. Ông nâng cốc, nhấp một hớp, rồi tiếp, “Cô hỏi là tôi ở đâu khi Chúa tể Hắc ám ra đi. Tôi đã ở chính nơi mà Ngài ra lệnh, là Học viện Ma thuật và Pháp thuật Hogwarts, vì Ngài muốn tôi thám thính lão Albus Dumbledore. Cô biết đấy, tôi cho là, tôi là người đảm nhiệm tốt nhất vị trí đó chứ?”

Bà ta khẽ gật đầu đến nối khó mà nhận thấy và định mở miệng, nhưng Snape đã ngăn lại.

“Cô còn hỏi tại sao tôi không cố gắng tìm Ngài khi Ngài biến mất. Cũng giống như lý do của Avery, Yaxley, và của gia đình Carrows, Greyback, Lucius” - ông ta hơi quay đầu về phía Narcissa — “và rất nhiều kẻ khác đã không tìm Ngài. Tôi nghĩ Ngài đã đi mãi mãi. Tôi không thích điều đó chút nào, tôi đã nhầm, và như vậy,… Nếu ngài không tha thứ cho chúng ta - những kẻ đã mất hết nhuệ khí lúc bấy giờ, Ngài có lẽ sẽ còn rất ít người trung thành đi theo.”

“Ngài còn ta!” Bellatrix mạnh mẽ. “Ta, người đã mất bao năm vì Ngài ở Azkaban!”

“Phải, đáng khâm phục thiệt tình,” Snape nói giọng buồn tẻ. “Có điều cô chẳng ích gì khi ở trong ngục cả, nhưng rõ ràng cứ chỉ thì đáng khâm phục đấy — ”

“Cử chỉ!” Bà ta hét lên; trông bà ta lúc giận như một kẻ điên. “Khi ta phải chịu đựng lũ Giám ngục, ngươi còn đang ở Hogwarts, đang đóng vai con thú cưng của lão Dumbledore!”

“Không hẳn thế,” Snape bình tĩnh. “Lão đã không cho tôi dạy môn Phòng chống Nghệ thuật Hắc ám, cô biết đấy. Có vẻ như cái này, à, làm cho tôi trở lại,… hướng tôi đến con đường cũ.”

“Ra đó là cách ngươi hy sinh cho Chúa tể Hắc ám, không được dạy cái môn học ưa thích ư?” Bà ta cười nhạo. “Sao ngươi lúc nào cũng ru rú ở đấy hả, Snape? Vẫn còn phải thăm dò lão Dumbledore cho một người Chủ nhân mà ngươi tin là đã chết à?”

“Thật khó khăn,” Snape nói, “Mặc dù Chúa tể Hắc ám hài lòng vì tôi chưa từng sao lãng nhiệm vụ cao cả: tôi có thông tin của mười sáu năm ở cùng lão Dumbledore để mang đến cho Ngài bất cứ khi nào ngài trở lại, một quà tặng tái ngộ có ích hơn là việc cứ than vãn kêu ca về sự khó chịu ở Azkaban… ”

“Nhưng ngươi đã ở đó —”

“Phải, Bellatrix, tôi ở đó,” Snape nói, cố ý để lộ ra sự mất kiên nhẫn của mình lần đầu tiên. “Tôi đã có một công việc ngon lành đến nỗi mà tôi còn tránh được cả một suất ở ngục Azkaban. Nơi đó đầy lũ Tử thần thực tử, cô biết đấy. Sự bảo vệ của Dumbledore đã giúp tôi khỏi bị tống vào tù; điều này thật vô cùng tiện lợi và tôi nên tận dụng. Tôi nhắc lại: Chúa tể Hắc ám không ý kiến gì về việc tôi ở lại, vì thế tôi không nghĩ là cô nên kêu ca đâu.”

“Và tôi nghĩ tiếp theo cô muốn biết,” Ông nhấn mạnh bằng một giọng to hơn, vì Bellatrix đã tìm đủ mọi cách ngắt lời ông ta, “Tại sao tôi lại đứng nhìn vụ Chúa tể Hắc ám và Hòn đá Phù thuỷ. Cũng dễ trả lời thôi. Ngài không biết là ngài có nên tin tôi nữa hay không. Ngài đã từng nghĩ, như chị, là tôi đã lật mặt từ một Tử thần Thực tử thành một thằng hề của lão Dumbledore. Ngài lúc đó vô cùng đáng thương và yếu ớt, phải dùng chung một thân xác với một tay phù thuỷ hạng ba. Ngài không dám tiết lộ danh tính của mình với một kẻ đồng minh mà kẻ đồng minh đó có thể nộp Ngài cho lão Dumbledore và Bộ Pháp thuật. Tôi thật sự tiếc việc Ngài đã không tin tôi. Ngài có thể có được sức mạnh kỳ diệu đó sớm hơn 3 năm. Và khi điều đó đã xảy ra, tôi chỉ thấy một thằng cha Quirrell tham lam và không xứng đáng đang tìm đủ cách lấy viên đá đi và, tôi thừa nhận, là tôi phải cố hết sức chặn hắn lại.”

Miệng của Bellatrix méo xệch trèo trẹo như bà ta bị buộc phải nhai thuốc đắng.

“Nhưng ngươi cũng không trở về khi Ngài trở lại, ngươi không bay trở về với Ngài khi ngươi thấy cái Dấu hiệu đen bùng cháy mà — ”

“Đúng. Tôi trở về muộn hai tiếng. Tôi trở về theo lệnh của Dumbledore.”

“Của Dumbledore — ?” Bà ta bắt đầu, giọng lạc đi vì kinh ngạc.

“Nghĩ đi!” Snape nói, lại mất kiên nhẫn. “Nghĩ đi! Chỉ cần chờ hai tiếng, chỉ hai tiếng thôi, tôi chắc rằng tôi vẫn có thể ở lại Hogwarts với tư cách một điệp viên! Bằng cách để cho lão Dumbledore thấy rằng tôi phải trở về với Chúa tể Hắc ám vì tôi buộc phải làm thế, tôi đã có thể mang thông tin của lão Dumbledore và Hội phượng Hoàng của lão từ đó! Cân nhắc đi, Bellatrix: Dấu hiệu đen ngày càng trở nên mạnh mẽ hơn trong vòng mấy tháng trở lại. Tôi biết là Ngài sẽ trở về, tất cả Tử thần Thực tử đều biết điều đó! Tôi đã có đủ thời gian suy nghĩ về việc mình muốn làm gì, đủ để lên kế hoạch cho bước tiếp theo, để chuồn gọn giống Karkaroff, phải không?”

“Sự không hài lòng của Chúa tể Hắc ám đối với sự chậm trễ của tôi đã biến mất hoàn toàn, tôi cam đoan đấy, khi tôi vẫn còn trung thành, ngay cả khi lão Dumbledore nghĩ rằng thằng tôi là người của lão. Phải đấy, Chúa tể Hắc ám nghĩ tôi đã lìa xa Ngài mãi mãi, nhưng Ngài đã nhầm.”

“Nhưng ngươi đã làm được cái tích sự gì?” Bellatrix rít lên. “Chúng ta đã có được thông tin gì hay từ ngươi chứ?”

“Thông tin đó đã được tâu trực tiếp với Chúa tể Hắc ám,” Snape nói. “Nếu Ngài quyết định không chia sẻ thông tin ấy với cô — ”

“Ngài nói với ta mọi thứ!” Bellatrix nói, tức giận bừng bừng. “Ngài nói rằng ta là kẻ kiên gan nhất, kẻ trung thành nhất — ”

“Vậy sao?” Snape nói, giọng lạc hẳn đi để lộ sự hoài nghi. “Ngài vẫn còn tin, sau cú thất bại ở Bộ Pháp thuật à?”

“Không phải lỗi của ta!” Bellatrix xổ ra. “Chúa tể Hắc ám đã, trong quá khứ, tin vào ta với tình cảm cao quý nhất — nếu lão Lucius không — ”

“Chị không định — chị không định đổ lỗi cho chồng em đấy chứ?”, Narcissa nói bằng giọng nhỏ và chết người, nhìn thẳng vào người chị.

“Chẳng có có lý do nào đổ trách nhiệm ấy hết,” Snape nói trôi chảy. “Chuyện đó đã qua rồi.”

“Nhưng không phải vì ngươi!” Bellatrix cáu tiết. “Không, ngươi một lần nữa vắng mặt khi tất cả chúng ta phải chịu nguy hiểm, đúng không, Snape?”

“Tôi được lệnh phải giữ bí mật,” Snape nói. “Có thể cô không đồng ý với cách làm của Chúa tể Hắc ám, có thể cô nghĩ là lão Dumbledore không quan tâm tới việc tôi có gia nhập Tử thần Thực tử để chống lại Hội Phượng hoàng hay không? Và — xin lỗi nhé — cô nói là nguy hiểm… có phải cô nói đến việc cô đối mặt với sáu đứa con nít, đúng không?”

“Chúng nó hợp sức lại với nhau, mà ngươi biết đấy, với một nửa Hội Phương Hoàng hậu thuẫn!” Bellatrix càu nhàu. “Và, nhân nói đến Hội Phượng Hoàng, ngươi vẫn còn kêu ca phàn nàn rằng ngươi không thể chỉ ra được cho chúng ta Tổng hành dinh của nó nằm ở đâu, phải không?”

“Tôi không phải là Kẻ-giữ-bí-mật; tôi không thể nói ra được. Cô biết bùa mê tác dụng thế nào rồi, tôi nghĩ thế? Chúa tể Hắc ám hài lòng về các thông tin tôi chỉ cho Ngài về Hội. Nó đã mang đến, mà có thể cô đoán được rồi, cái vụ bắt cóc và ám sát Emmeline Vance, và dĩ nhiên là giúp cho việc trừ khử tay Sirius Black, vì tôi giữ bản quyền vụ kết liễu hắn.”

Snape lại nâng cốc chúc mừng về phía bà. Vẻ mặt bà ta cũng không dịu đi.

“Ngươi còn chưa trả lời ta câu cuối, Snape. Harry Potter. Ngươi có thể kết liễu thằng nhóc bất cứ lúc nào trong vòng 5 năm trở lại đây. Nhưng ngươi đã không làm. Tại sao?”

“Cô đã bàn với Chúa tể Hắc ám vấn đề này chưa?” Snape hỏi lại.

“Ngài . . lúc khác, chúng ta … ta đang hỏi ngươi đấy, Snape!”

“Nếu tôi mà giết Harry Potter, Chúa tể Hắc ám sẽ không thể dùng máu nó để hồi sinh, làm cho Ngài trở thành bất bại — ”

“Hoá ra ngươi thấy trước được cả công dụng của thằng nhãi hả!” bà ta rít lên.

“Tôi không cho là vậy; tôi không có ý kiến gì về kế hoạch của Ngài; tôi đã thú nhận với Ngài là tôi nghĩ Chuá tể Hắc ám đã chết. Tôi chỉ đơn thuần cố gắng tự lí giải tại sao Ngài không thấy tiếc khi thấy thằng nhãi Potter vẫn còn sống, ít nhất là một năm trước… ”

“Nhưng tại sao mgươi vẫn để cho nó sống?”

“Cô vẫn chưa hiểu ra ư? Đó chỉ là do sự che chở chằm chặp của lão Dumbledore như lão đã bảo kê giúp tôi khỏi phải ngồi trong Azkaban! Có phải cô không công nhận là việc kết liễu đời thằng học trò cưng của lão sẽ khiến lão quay lại đối đầu với tôi không? Nhưng sự việc còn nghiêm trọng hơn thế. Tôi phải nhắc lại là khi Potter vào Hogwarts lần đầu tiên thì đã có nhiều chuyện bàn tán quanh nó, tin đồn rằng nó là một phù thuỷ Hắc ám vĩ đại, đó là việc giải thích tại sao nó vẫn sống sót sau vụ tấn công của Chúa tể Hắc ám. Tôi cũng tò mò, tôi thừa nhận, và đã không bằng mọi giá giết Potter vào đúng cái lúc nó đặt chân lên cái trường đó.”

“Tất nhiên, có một điều thật rõ ràng, tôi đã nhanh chóng nhận ra thằng nhãi chẳng có tài cán đặc biệt gì hết. Nó chỉ chiến đấu khi bị dồn đến chân tường với một số sự may mắn đơn thuần và bọn bạn bè còn có vẻ tài năng hơn. Thằng nhãi xoàng đến cực độ, mà lại còn làm ra vẻ kiêu căng và tự đắc giống hệt như cha nó. Tôi đã cố hết sức mình để tống cổ nó ra khỏi Hogwarts, nơi mà tôi tin rằng hầu như không phải là đất của nó, nhưng nếu giết nó, hoặc để nó chết trước mặt tôi? Tôi có là thằng ngốc mới làm việc nguy hiểm đó trước mặt lão Dumbledore.”

“Và qua những điều này bọn ta sẽ bị thuyết phục rằng Dumbledore chẳng hề nghi ngờ ngươi chăng?” Bellatrix hỏi. “Lão chẳng biết gì về lòng trung thành thật sự, lão vẫn tin tưởng hoàn toàn vào ngươi?”

“Tôi vào vai rất đạt,” Snape nói. “Và cô hãy nhìn vào điểm yếu nhất của lão Dumbledore: lão luôn tin tưởng điều tốt đẹp nhất của mỗi con người. Tôi đã chơi một bài ăn năn hối cải khi tôi gia nhập đội ngũ của lão, đổi mới từ một Tử thần Thực tử, và lão đã dang rộng đôi tay để đón - nên, như tôi đã nói, lão không bao giờ cho phép tôi đến gần Nghệ thuật Hắc ám chừng nào lão còn làm được. Dumbledore là một pháp sư vĩ đại — đúng vậy, một pháp sư vĩ đại,” (Bellatrix rít lên một tiếng cay độc) “Chúa tể Hắc ám cũng biết vậy. Tôi rất vui mừng mà nói rằng, tuy vậy lão đang già đi. Cuộc chiến tay đôi với Chúa tể Hắc ám đã làm lão sốc lắm. Lão bị dính nhiều vết thương nghiêm trọng vì phản xạ của lão chậm đi nhiều so với hồi xưa. Nhưng nhiều năm qua, lão vẫn chưa bao giờ ngừng tin tưởng Severus Snape, và điều đó làm cho tôi có giá trị lớn trong mắt Chúa tể Hắc ám.”

Bellatrix trông vẫn còn khó chịu, vì bà ta chưa biết làm thế nào nào để vặn Snape tiếp. Lợi dụng cơ hội Bellatrix đang im hơi lặng tiếng, Snape quay ra người em.

“Bây giờ… Narcissa, cô đến đây để yêu cầu giúp đỡ?”

Narcissa nhìn lên ông ta, khuôn mặt đầy vẻ tuyệt vọng.

“Phải, Severus. Tôi — tôi nghĩ anh là người duy nhất có thể giúp tôi, tôi không còn ai để trông mong nữa. Lucius đang ở trong ngục và… ”

Bà nhắm nghiền mắt lại và hai giọt nước mắt trào ra.

“Chúa tể Hắc ám cấm tôi nói ra điều đó,” Narcissa tiếp tục, mắt vẫn nhắm nghiền. “Ngài không muốn ai biết kế hoạch này hết. Nó… vô cùng bí mật. Nhưng — ”

“Nếu Ngài không cho phép, cô không nên kể,” Snape nói luôn. “Một từ của Chúa tể Hắc ám là cả một mệnh lệnh.”

Narcissa há hốc miệng như thể ông ta tạt một gáo nước lạnh vào bà. Bellatrix lần đầu tiên trông có vẻ hài lòng từ khi bà ta đặt chân vào cái nhà này.

“Thế là xong!” Bà ta nói đứa em với vẻ chiến thắng. “Ngay cả Snape cũng nói thế: mày được bảo là không nói thì cứ việc câm miệng!”

Nhưng Snape đã đứng dậy và đi đến cạnh chiếc cửa sổ, nhìn kỹ qua bức mành đến con đường vắng lặng, sau đó lại đóng sập lại. Ông ta đi vòng đến chỗ Narcissa, cau mày.

“Ngẫu nhiên là tôi cũng được biết kế hoạch này,” ông ta nói rất khẽ. “Tôi là một người trong số rất ít người được Chúa tể Hắc ám truyền cho. Tuy thế, dù tôi đã biết bí mật, Narcissa, cô có thể sẽ trở thành kẻ phản bội Chúa thể Hắc ám đấy.”

“Tôi nghĩ anh hẳn phải biết rồi!” Narcissa nói, thở dễ dàng hơn. “Ngài rất tin anh mà, Severus. …”

“Ngươi biết kế hoạch đó rồi?” Bellatrix nói, biểu hiện rất nhanh của sự đắc thắng bị đổi ngay thành cái nhìn hoài nghi. “Ngươi biết?”

“Tất nhiên,” Snape nói. “Nhưng cô cần tôi giúp gì, Nar-cissa? Nếu cô đang tưởng tượng cảnh tôi có thể thuyết phục được Chúa tể Hắc ám đổi ý, tôi rất tiếc là chẳng có hy vọng gì đâu, chẳng có gì.”

“Severus,” bà gọi khẽ, nước mắt chảy trên gò má nhợt nhạt. “Con trai tôi… con trai duy nhất cuả tôi… ”

“Draco nên tự hào,” Bellatrix nói. “Chúa tể Hắc ám đang ban cho nó một vinh dự lớn. Và ta sẽ nói điều này vì Draco: nó không hề lùi bước trước nhiệm vụ cao cả, nó còn có vẻ vui mừng khi có được một cơ hội để khẳng định mình, và kích động trước cái viễn cảnh — ”

Narcissa bắt đầu khóc nức nở, luôn nhìn Snape với vẻ cầu khẩn.

“Đó là bởi vì nó chỉ mới 16 và không có ý niệm gì về những lời nói dối đã được sắp đặt sẵn cả! Tại sao, Severus? Tại sao lại là con trai tôi? Thật quá nguy hiểm! Đó là sự trả thù cho lỗi lầm của Lucius, tôi biết mà!”

Snape không nói gì. Ông không nhìn và những giọt nước mắt nữa vì đó là việc khiếm nhã, nhưng ông ta không thể giả bộ không nghe thấy gì.

“Đó là lý do tại sao Ngài chọn Draco, phải không?” Bà ta rên rỉ. “Để trừng phạt Lucius?”

“Nếu Draco thành công,” Snape nói, vẫn nhìn tránh bà ta, “nó sẽ được vinh danh hơn tất cả những kẻ khác.”

“Nhưng nó sẽ không thành công!” Narcissa nức nở. “Nó làm thế nào được, khi mà ngay cả bản thân Chúa tể Hắc ám — ?”

Bellatrix há hốc miệng; Narcissa hình như hoá điên mất rồi.

“Tôi chỉ có ý là… là chưa ai thành công hết… Severus… làm ơn… Anh, anh luôn là, thầy giáo Draco thích nhất… Anh là bạn cũ của Lucius… Tôi van anh… Anh là tâm phúc của Chúa tể Hắc ám, cố vấn mà Ngài tin tưởng nhất… Anh sẽ nói với Ngài chứ, thuyết phục Ngài — ?”

“Chúa tể Hắc ám sẽ không bị thuyết phục, và tôi cũng không đủ ngu ngốc để làm việc đó,” Snape thẳng thừng. “Tôi không thể giả bộ là Chúa tể Hắc ám không tức giận với Lucius. Lucius phải bị trừng phạt. Ông ta đã để bị bắt, cùng với nhiều kẻ khác, và còn thất bại trong việc lấy Lời tiên tri. Đúng vậy, Narcissa, Chúa tể Hắc ám tức giận, thật sự rất tức giận.”

“Vậy nên tôi đã đúng, Ngài đã chọn Draco để trả thù!” Narcissa nấc nghẹn.
“Ngài không muốn nó thành công, Ngài muốn nó bị chết khi cố gắng làm điều đó!”

Khi Snape không nói gì, Narcissa có vẻ như đã mất nốt chút tự chủ còn giữ được nãy giờ. Đứng dậy, bà ta lảo đảo ngã vào Snape và nắm lấy vạt áo ông ta. Mặt bà ta kề sát ông ta, nước mắt chảy dài xuống ngực ông, bà thở hắt ra:

“Anh làm được mà. Anh làm thay cho Draco chuyện đó được mà, Severus. Anh sẽ thành công, tất nhiên là thế rồi, và Ngài sẽ thưởng cho tất cả chúng ta — ”

Snape nắm cổ tay bà và giật bàn tay đang nắm chặt của bà ra. Nhìn xuống khuôn mặt giàn giụa nước mắt, ông ta chậm rãi:

“Ngài định để tôi cuối cùng cũng làm chuyện đó, tôi nghĩ vậy. Nhưng ngài đã quyết định là Draco phải thử trước. Cô thấy đấy, trong trường hợp Draco có thể thành công, thì tôi có thể ở lại Hogwarts lâu hơn nữa, hoàn thành trách nhiệm của một điệp viên.”

“Nói cách khác, chẳng liên quan gì đến Ngài nếu Draco bị giết chết!”

“Chúa tể Hắc ám rất giận,” Snape nhắc lại thật nhỏ. “Ngài đã không nghe được Lời tiên tri. Cô cũng biết rõ là thế mà, Narcissa, Ngài không dễ mà bỏ qua đâu.”

Bà ngã quỵ, sụp xuống chân ông ta, thổn thức van nài dưới đất.

“Đứa con độc nhất của ta . . . Đứa con độc nhất của ta . . .”

“Mày nên tự hào!” Bellatrix tàn nhẫn nói. “Nếu ta có con trai, ta sẽ rất vui mừng để cho con ta phục vụ Chúa tể Hắc ám!”

Narcissa khẽ gào lên thất vọng và vò đầu bứt tóc. Snape dừng lại, nắm lấy tay bà ta, đõ bà dậy, và dìu bà lại ghế bành. Rồi ông ta rót cho bà thêm rượu và buộc bà ta phải cầm lấy cốc.

“Narcissa, thế đủ rồi. Uống đi. Nghe tôi.”

Bà ta im lặng được một lát, đánh đổ một ít rượu ra ngoài, tay run lên cầm cập, .

“Tôi có khả năng có thể… giúp được Draco.”

Bà ngồi thảng lên, mặt trắng bệch, mắt mở to.

“Severus — ồ, Severus — anh sẽ giúp thằng bé chứ? Anh sẽ trông coi nó, bảo vệ nó chứ?”

“Tôi sẽ cố.”

Bà hất tung cái cốc ra, nó lăn dọc mặt bàn khi bà rời khỏi ghế bành để đến quỳ trước chân Snape, nắm tay ông ta bằng cả hai tay mình, và hôn tay ông.

“Anh sẽ ở đó để bảo vệ nó… Severus, anh hứa với tôi không? Anh sẽ hứa bằng Lời nguyền Vĩnh viễn chứ?”

“Lời nguyền Vĩnh viễn?”

Thái độ của Snape có vẻ dửng dưng, khó đoán. Bellatrix, tuy thế, cười khúc khích đắc thắng.

“Mày nghe chứ, Narcissa? Ồ, nó sẽ cố gắng, ta biết mà… Những lời sáo rỗng quen dùng, nói mà không làm mà… Ồ, theo lời của Chúa tể Hắc ám, tất nhiên!”

Snape không nhìn vào Bellatrix. Đôi mắt đen của ông ta nhìn thằng vào khuôn mặt giàn giụa nước mắt của Narcissa trong khi bà vẫn nắm chắc tay ông ta.

“Dĩ nhiên, Narcissa, tôi sẽ hứa bằng Lời nguyền Vĩnh viễn,” Ông ta nói rất khẽ. “Có thể chị của cô sẵn lòng làm Người làm chứng.”

Bellatrix há hốc miệng. Snape cúi thấp người xuống đối diện với Narcissa. Trong khi Bellatrix vô cùng kinh ngạc, hai người nắm chặt tay phải của nhau.

“Cô lấy đũa phép ra, Bellatrix,” Snape lạnh lùng.

Bà ta rút ra, vẫn còn bàng hoàng kinh ngạc.

“Và cô cần tiến gần lại đây nữa,” ông nói.

Bà ta bước tới trước mặt hai người, và để đầu cây đũa phép vào chỗ hai bàn tay đang nắm chặt vào nhau.

Narcissa nói.

“Có phải anh, Severus, sẽ trông coi con trai tôi, Draco, khi nó cố gắng thực thi nhiệm vụ mà Chúa tể Hắc ám giao cho?”

“Tôi sẽ làm,” Snape nói.

Một lưỡi lửa sáng chói loé lên từ đầu cây đũa phép và vây lấy hai bàn tay làm thành một cái vòng bằng lửa nóng đỏ.

“Và có phải anh sẽ, làm hết khả năng của mình, để bảo vệ nó khỏi nguy hiểm?”

“Tôi sẽ làm,” Snape nói.

Một lưỡi lửa thứ hai loé lên từ đầu cây đũa phép và nối liền với vòng thứ nhất, tạo thành một quầng lửa sáng chói.

“Và, trường hợp ngoại lệ… nếu như Draco không thành công… ” Narcissa nói khẽ (Bàn tay của Snape đã run rẩy muốn rút lại, nhưng ông ta không bỏ hẳn ra), “Anh sẽ làm công việc mà Chúa tể Hắc ám đã giao cho Draco làm?”

Một giây im lặng. Bellatrix dò xét, cây đũa phép vẫn để vào bàn tay đã nắm chặt của họ, mắt mở to.

“Tôi sẽ làm,” Snape nói.

Khuôn mặt ngỡ ngàng của Bellatrix trở nên giận tím tái trong một ngọn lửa thứ ba được phun ra từ cây đũa phép, xoắn lấy hai vòng lửa kia, và cả ba vòng lửa gắn vào hai bàn tay nắm chặt, như một sợi dây lửa, một con rắn bằng lửa.

Chương 3:
Will and Wont
Sẽ và Sẽ không

Harry Potter đang ngáy rất to. Nó đã ngồi trên cái ghế bên cạnh cửa sổ phòng ngủ của nó trong suốt bốn tiếng, nhìn chằm chằm ra con đường tối tăm bên ngoài rồi ngủ với một bên mặt tựa vào tấm cửa kính cửa sổ lạnh ngắt, chiếc mắt kính của nó thì lệnh sang một bên, miệng thì há to ra. Hơi thở của nó phà vào kính của sổ sáng rực ánh sáng màu cam của đèn đường bên ngoài và ánh sáng nhân tạo làm cho mặt nó đủ màu sắc, do đó trông nó như một hồn ma với mái tóc đen rối bù.

Căn phòng bừa bãi đồ đạc và rác rưởi. Lông cú, lõi táo và giấy gói kẹo rải rác khắp sàn, một số quyến sách bùa chú vứt lung tung cùng với đống áo choàng bừa bãi trên giường, và một mẩu báo ướt mem để trên bàn. Mẩu báo có tựa đề:

HARRY POTTER: NGƯỜI ĐƯỢC CHỌN?

Tin đồn tiếp tục lan đi về sự xáo trộn bí ẩn gần đây tại Bộ Pháp Thuật, trong lúc mà Kẻ-Mà-Chớ-Gọi-Tên-Ra đã bị nhìn thấy một lần nữa.

“Chúng tôi không được phép nói gì về chuyện này, đừng hỏi tôi.” một quan chức bối rối nói, người đã từ chối nói tên khi ông ấy rời khỏi Bộ pháp thuật tối qua.

Tuy nhiên, những nguồn tin đáng giá trong Bộ pháp thuật đã xác nhận là sự xáo trộn xảy ra trong Phòng Tiên tri.

Mặc dù Bộ pháp Thuật đã nói các phù thủy từ trước đến giờ từ chối xác nhận sự tồn tại của nơi đó, nhưng số lượng ngày càng đông dân phù thủy tin rằng bọn Tử thần thực tử đang lãnh án trong ngục Azkaban vì những tội lỗi xấu xa và việc cố gắng đánh cắp Lời tiên tri. Lời tiên tri gốc thì không ai biết, mặc dù người ta cứ đoán già đoán non là nó có liên quan đến Harry Potter, người đã sống sót sau lời nguyền giết chóc và cũng là người đã có mặt trong Bộ pháp thuật đêm hôm đó. Người ta gọi Potter là “Người Được Chọn” lúc nào không hay vì mọi người đều tin rằng lời tiên tri đã nói tên nó như người duy nhất sẽ có khả năng loại trừ Kẻ-Mà-Chớ-Gọi-Tên-Ra.

Mặc dù lời tiên tri được cất giấu ở chỗ nào nếu như nó có thực thì vẫn không ai biết. (xem trang 2 cột 5)

Mẩu tin thứ hai nằm ở bên cạnh. Bài này mang tựa đề chán ngắt:

SCRIMGEOUR KẾ NGHIỆP FUDGE

Hầu hết trang bìa của tờ báo là tấm hình chụp trắng đen một người đàn ông có mái tóc dầy như bờm sư tử và khuôn mặt dữ dằn. Tấm hình chuyển động - người đàn ông đang vẫy tay.

Rufus Scrimgeour, trước đây là người đứng đầu của Trụ sở Dũng sĩ diệt Hắc ám của Bộ Thi Hành Luật Pháp Thuật, đã kế nghiệp Cornelius Fudge làm Bộ trưởng Pháp Thuật. Sự bổ nhiệm này được cộng đồng phù thủy ủng hộ nhiệt tình mặc dù có một số tin đồn về sự bất hòa giữa Bộ trưởng pháp thuật mới này với cụ Albus Dumbledore, vừa được phục chức Tổng Chiến Tướng của Hội đồng an ninh phù thủy, đã xuất hiện trong vài giờ đồng hồ tại văn phòng của ông Scrimgeour.

Người đại diện của Scrimgeour thừa nhận rằng ông đã gặp cụ Dumbledore trong lần nhậm chức mới, nhưng từ chối đưa ra lời bình luận về đề tài mà họ đã thảo luận. Albus Dumbledore được biết như (xem trang 3 cột 2)

Phần còn lại của bài báo đã bị gập lại cho nên câu chuyện mang tựa bộ pháp thuật bảo đảm sự an toàn cho các học sinh hiện ra tiếp theo.

Bộ trưởng mới được bổ nhiệm, Rufus Scrimgeour, đã có lời phát biểu cứng rắn về việc Bộ pháp thuật của ông đảm bảo cho sự an toàn của các học sinh khi nhập học tại Học viện Pháp Thuật và Ma Thuật Hogwarts vào mùa thu này.

“Với những lý do hiển nhiên, bộ pháp thuật sẽ không tiết lộ chi tiết kế hoạch an ninh nghiêm ngặt mới này,” bộ trưởng nói, mặc dù một người trong Bộ xác nhận rằng các biện pháp bao gồm các câu thần chú phòng thủ, bùa chú, một lô lời nguyền đối lập phức tạp, và một lực lượng nhỏ Dũng sĩ diệt Hắc ám có nhiệm vụ chuyên bảo vệ trường Hogwarts.

Dường như mọi thứ đều được bộ trưởng mới cam đoan chắc chắn về sự an toàn của học sinh. Bà Augusta Longbottom nói, “Cháu tôi, Neville - một người bạn tốt của Harry Potter, tình cờ, đã kề vai sát cánh với Harry Potter chiến đấu chống tại bon Tử thần thực tử tại Bộ pháp thuật vào tháng 6 và -

Phần còn lại của câu chuyện bị che bởi cái lồng chim lớn. Bên trong đó là một con cú màu trắng tuyến tuyệt đẹp. Đôi mắt màu hổ phách của nó nhìn khắp phòng một cách hống hách. Đôi khi nó quay đầu qua nhìn chằm chằm vào cậu chủ đang ngáy của nó. Một hoặc hai lần nó mổ lách cách một cách sốt ruột nhưng Harry ngủ sâu quá nên không nghe được tiếng của nó.

Cái rương lớn đặt ở giữa căn phòng. Nắp mở bung ra như đang trông chờ. Nó hầu như trống rỗng ngoại trừ phần còn lại là đống đồ lót cũ, kẹo, lọ mực rỗng và vài cây viết lông được bọc kỹ. Gần đó, trên sàn nhà có trải một tờ rơi màu tía mang khẩu hiệu:

—- ĐƯỢC PHÁT HÀNH THEO CHỈ THỊ CỦA —-
Bộ Pháp Thuật
BẢO VỆ NHÀ VÀ GIA ĐÌNH CỦA BẠN CHỐNG LẠI NHỮNG THẾ LỰC BÓNG TỐI

Cộng đồng phù thủy đang đặt dưới sự đe dọa của một tổ chức được gọi là Tử Thần Thực Tử. Tuân theo những hướng dẫn an ninh đơn giản dưới đây sẽ giúp bảo vệ bạn, gia đình bạn và nhà bạn khỏi bị tấn công.

1. Bạn không nên rời khỏi nhà một mình.

2. Đặc biệt cẩn trọng trong suốt thời gian trời tối. Nếu có thể thì sắp xếp hoàn tất mọi chuyến đi trước khi trời tốt.

3. Xem xét hệ thống an ninh xung quanh nhà bạn, phải chắc rằng các thành viên trong gia đình biết sử dụng những phương pháp khẩn cấp như các câu thần chú bảo vệ và làm tan vỡ, và đối với các thành viên nhỏ tuổi trong gia đình thì phải Xuất-hiện-theo-bên-mình.

4. Thỏa thuận những câu hỏi an ninh với bạn thân và gia đình để ngăn ngừa Tử Thần Thực Tử cải trang thành người khác bằng cách dùng thuốc Đa dịch (xem trang 2)

5. Nếu bạn thấy người trong gia đình, đồng nghiệp, bạn bè hoặc hàng xóm có những biểu hiện khác thường thì hãy liên hệ Bộ Thi Hành Luật Pháp Thuật ngay. Họ có thể đã bị tấn công bởi lời nguyền Độc đoán (xem trang 4)

6. Nếu thấy Dấu hiệu Đen xuất hiện ở bất cứ khu vực nhà ở nào thì KHÔNG ĐƯỢC RA NGOÀI, nhưng phải báo với trụ sở Dũng sĩ diệt Hắc Ám ngay tức khắc.

7. Việc trông thấy không được xác nhận ám chỉ Tử Thần Thực Tử có thể sử dụng Inferi (xem trang 10). Bất cứ khi nào trông thấy Inferius, hoặc chạm trán bất ngờ thì nên báo cho Bộ Phát Thuật ngay tức khắc.

Harry ngọ ngoạy, mặt nó trượt xuống cửa sổ một inch hoặc đại loại cỡ đó, làm cho cái mắt kính của nó nghiêng hẳn sang một bên, nhưng nó vẫn chưa dậy. Chiếc đồng hồ báo thức, Harry đã sửa cách đây vài năm, kêu tíc tắc rất to trên bệ cửa, chỉ mười một giờ kém một phút. Bên cạnh đó, ở chỗ Harry đang để tay, là một miếng giấy da với nét chữ ốm và nghiêng. Harry đã đọc lá thư này rất thường xuyên từ khi nhận được nó cách đây ba ngày đến nỗi khi nhận miếng giấy da được cuộn chặt gọn gàng, bây giờ thì nó hoàn toàn phẳng lì.

Harry thân,

Nếu thuận tiện cho con thì ta sẽ gặp con tại số 4 đường Privet Drive vào thứ sáu sắp tới này vào lúc mười một giờ tối để hộ tống con đến trang trại Hang Sóc, nơi con được mời đến ở cho đến hết kỳ nghỉ hè.

Nếu con đồng ý, ta sẽ rất vui lòng với sự giúp đỡ của con trong việc ta hi vọng được đi chung đến trang trại Hang Sóc. Ta sẽ giải thích đầy đủ khi ta gặp con.

Hãy gửi cú trả lời ta. Hi vọng gặp con vào thứ sáu,

Ta, người thân yêu nhất của con,

Albus Dumbledore

Mặc dù tận trong lòng Harry biết, nó đã liếc trộm lá thư cứ mỗi phút từ bảy giờ tối nay, khi nó bắt đầu ngồi vào vị trí cửa sổ phòng ngủ, nơi mà nhìn ra có thể thấy hết con đường Privet Drive. Nó biết thật vô nghĩa khi cứ đọc đi đọc lại những lời cụ Dumbledore đã viết. Harry đã gửi câu trả lời đồng ý với con cú như được yêu cầu, và những gì nó có thể làm bây giờ là chờ đợi cho dù cụ Dumbledore có đến hay không.

Nhưng Harry vẫn chưa đóng gói đồ đạc. Dường như nếu đây là sự thật thì thật quá tốt khi giải cứu nó khỏi nhà Dursley chỉ sau hai tuần lễ ở cùng họ. Nó không thể giũ sạch cảm giác rằng có chuyện không tốt - lá thư trả lời của nó gửi cụ Dumbledore có thể đi chệch hướng; cụ Dumbledore có thể bị ngăn cản trong việc đón nó; lá thư này có thể không phải của cụ Dumbledore mà là một trò bịp, trò đùa hoặc là một cái bẫy. Nó không thể đóng gói đồ đạc để rồi sau đó bị thất vọng và lại phải tháo dỡ đồ đạc ra lại. Hành động duy nhất mà nó làm để cảm thấy chuyến đi này là sự thật là nhốt con cú trắng tuyết Hedwig an toàn trong chuồng.

Cây kim chỉ phút trên cái đồng hồ báo thức đã dịch đến số mười hai, đúng vào lúc đó, đèn đường bên ngoài vụt tắt.

Harry tỉnh dậy cứ như là bóng tối bất ngờ bên ngoài đã báo thức nó. Nó vội vàng nắn thẳng cái mắt kính lại, ịn mũi vào kính cửa sổ nheo mắt nhìn xuống lề đường. Một người đàn ông cao với áo choàng dài phấp phới đang đi vào vườn.

Harry nhảy dựng lên như là bị điện giựt, gõ vào ghế, và bắt đầu vồ lấy mọi thứ trên sàn quăng vào rương. Cùng lúc nó cho vào cả bộ áo choàng, hai quyển sách bùa chú và một gói thức ăn băng qua phòng, tiếng chuông cửa reo. Dưới lầu trong phòng khách dượng Vernon quát, “Ai lại đến vào đêm khuya khoắt thế này?”

Harry thấy ớn lạnh với cái kính thiên văn bằng đồng thau trong tay và đôi giầy trong tay còn lại. Nó đã hoàn toàn quên cảnh báo nhà Dursley rằng cụ Dumbledore có thể sẽ đến. Cảm giác vừa sợ hãi vừa buồn cười, nó leo qua cái rương và mở cửa phòng ngủ đúng lúc nghe một giọng trầm trầm nói, “Chào buổi tối. Chắc hẳn ông là ông Dursley. Chắc Harry đã nói với ông là tôi sẽ đến đón nó rồi chứ?”

Harry chạy xuống cầu thang, và dừng lại đột ngột ở những bậc cuối vì theo kinh nghiệm đã dạy nó phải tránh xa tầm với của dượng Vernon khi có thể. Có một người đàng ông cao, ốm và có bộ râu bạc trắng dài đến thắt lưng đang đứng ở cửa. Với cặp mắt kính nửa vầng trăng xệ trên cái mũi khoằm, ông mặc một cái áo khoác đi dường màu đen dài và đội một cái nón chóp nhọn. Dượng Vernon, người có bộ ria mép dầy như của cụ Dumbledore nhưng màu đen và đang mặc một cái áo ngủ dài màu nâu đen, nhìn chằm chằm vào vị khách như không tin vào đôi mắt ti hí của mình.

“Qua ánh mắt sửng sốt không thể tin được của ông, tôi đoán Harry đã không báo ông biết việc tôi sẽ đến,” cụ Dumbledore nói nhã nhặn. “Dù sao, chúng ta hãy cứ cho rằng ông đã mời tôi đến nhà một cách thân mật. Thật là khờ dại nếu cứ nấn ná lâu ở ngay trước cửa trong thời điểm khó khăn như thế này.”

Cụ bước nhanh vào và đóng cửa lại.

“Đã rất lâu kể từ lần viếng thăm trước đây của tôi,” cụ Dumbledore nói, dí cái mũi khoằm nhìn sát vào dượng Vernon. “Tôi phải nói rằng gia đình ông rất sung túc.”

Dượng Vernon không nói gì cả. Harry không nghi ngờ gì câu chuyện sẽ quay sang nó - các mạch máu của dượng đang tăng cao - nhưng có điều gì đó ở cụ Dumbledore khiến cho dượng dễ thở hơn. Có thể là do sự xuất hiện rất phù thủy của cụ hoặc cũng có thể là do dượng Vernon nhận ra rất khó mà quát nạt người đàn ông này.

“À, chào Harry,” cụ Dumbledore nói, nhìn nó qua cặp kính nửa vầng trăng với nét mặt thỏa mãn. “Tốt lắm, tốt lắm.”

Những từ này như đánh thức dượng Vernon. Rõ ràng lâu nay dượng cho rằng bất cứ người nào nhìn Harry mà nói “tốt lắm” thì chắc chắn người đó không có mắt.

“Tôi không có ý thô lỗ -” dượng nói với giọng điệu đe dọa láo xược trong từng âm chữ.

“– nhưng thật đáng tiếc thay, sự thô lỗ không cố ý đó lại xảy ra rất thường xuyên,” cụ Dumbledore kết thúc câu nói một cách nghiêm trang. “Tốt nhất là không nên nói gì, ông bạn ạ. A, đây chắc hẳn là Petunia.”

Cửa bếp mở ra, dì của Harry đang đứng đó, mang đôi bao tay cao su và mặc một cái tạp dề bên ngoài áo ngủ, rõ ràng là dì đang lau chùi bếp nửa chừng trước khi đi ngủ. Gương mặt như ngựa của dì không phản ánh diều gì ngoại trừ sự kinh ngạc.

“Albus Dumbledore,” cụ Dumbledore tự giới thiệu, trong khi dượng Vernon quên không giới thiệu. “Hẳn nhiên trước đây chúng ta đã liên hệ bằng thư.” Harry nghĩ thật là một cách lạ lùng để nhắc dì Petunia nhớ có lần cụ đã gửi cho dì một lá thư sấm, nhưng dì Petunia đã không thừa nhận. “Và đây chắc là con trai của ông bà, Dudley?”

Lúc đó Dudley vừa bước vào phòng khách. Cái đầu to với mái tóc vàng hiện bên trên cái cổ áo sọc của bộ đồ ngủ nó mặc trông thật quái gở, miệng nó há to ngạc nhiên. Cụ Dumbledore chờ vài phút xem có người nào nhà Dursley nói gì không, nhưng mọi người vẫn nhìn chăm chằm cụ.

“Chúng ta cứ cho rằng ông bà mời tôi ngồi nhé?”

“Dudley tránh đường khi cụ Dumbledore bước ngang nó. Harry vẫn cầm cái kính thiên văn và đôi giầy, nhảy xuống những bậc thang cuối và đi theo cụ Dumbledore, lúc này cụ đã ngồi vào một chiếc ghế bành cạnh lò sưởi và nhìn ngó xung quanh với nét mặt thích thú. Trông cụ hoàn toàn khác thường với khung cảnh này.

“Chúng ta — chúng ta không đi sao thầy?” Harry băn khoăn hỏi.

“Ừ, chúng ta sẽ đi thôi, nhưng có một vài vấn đề chúng ta cần thảo luận trước đã,” cụ Dumbledore nói.

“Và ta không thích làm điều này khi bắt đầu. Chúng ta sẽ xúc phạm lòng hiếu khách của dì dượng cháu một chút đấy.”

“Ông, sao ông dám?”

Dượng Vernon bước vào phòng, dì Petunia đứng sau lưng, còn Dudley thì trốn sau cha mẹ.

“Vâng,” cụ Dumbledore nói thản nhiên, “Tôi dám.”

Cụ rút đũa phép ra nhanh đến nỗi Harry hiếm khi thấy, với một cái vẩy nhẹ, cái ghế sofa vọt lại đụng vào đầu gối của cả ba người nhà Dursley làm họ té nhào xuống thành đống. Một cái vẩy nhẹ nữa, cái ghế sofa trở về vị trí cũ.

“Chúng ta có thể dễ chịu hơn rồi,” cụ Dumbledore nói vui vẻ.

Khi cụ cất đũa phép vào túi, Harry thấy bên trong tay áo khoác bàn tay của cụ bị cháy đen và hơi quăn queo trông cứ như nó đã từng bị cháy.

“Thưa thầy - có chuyện gì đã xảy ra với -?”

“Để sau Harry,” cụ Dumbledore nói. “Con ngồi xuống đi.”

Harry ngồi xuống cái ghế bành còn lại, nó chọn cái không phải trông thấy gia đình Dursley, những người này đang sửng sốt không nói nên lời.

“Tôi cho rằng ông sẽ thết đãi tôi một ít đồ ăn thức uống,” cụ Dumbledore nói với dượng Vernon, “nhưng bằng chứng cho thấy điều đó có vẻ thật xuẩn ngốc.”

Cái vẩy đũa phép lần thứ ba, một cái chai nhỏ và năm cái ly xuất hiện giữa không trung. Cái chai đựng thứ nước có màu mật ong mở nắp rót xuống năm cái ly, chúng lần lượt trôi về phía từng người một trong phòng.

“Bà Rosmerta tốt bụng đã pha chế rượu mật ong này,” cụ Dumbledore nói, giơ cái ly của cụ về phía Harry trong khi nó đang cầm cái ly phần nó nhấm nháp. Nó chưa từng uống thứ nước gì giống như thứ này, nên uống một cách vô cùng thích thú. Gia đình Dursley sau một lúc nhìn nhau sợ hãi, cố phớt lờ những cái ly phần họ và huých tay đẩy chúng sang một bên. Harry không thể nén được thắc mắc tại sao cụ Dumbledore tại tỏ ra khá là khoan khoái như thế.

“Harry này,” cụ Dumbledore quay sang nó nói, “có một khó khăn vừa xảy ra, ta hi vọng con có thể giải quyết giúp chúng ta. Đối với chúng ta, ý ta là Hội Phượng Hoàng. Nhưng trước tiên ta phải kể cho con là chúng ta đã tìm thấy Sirius một tuần trước, và chú ấy đã để lại cho con những gì chú ấy có.”

Phía bên kia cái ghế sofa, dượng Vernon ngẩng đầu lên, nhưng Harry không nhìn ông dượng và nó đã không nói gì ngoài trừ, “Dạ vâng.”

“Thực sự là,” cụ Dumbledore nói tiếp. “Cháu có thêm một số lượng vừa phải vàng trong tài khoản của cháu tại ngân hàng Gringotts, và cháu thừa kế toàn bộ tài sản của Sirius. Phần tài sản thừa kế chưa giải quyết -”

“Cha đỡ đầu của nó chết sao?” dượng Vernon la to từ phía bên kia chiếc ghế sofa. Cả cụ Dumbledore và Harry cùng quay sang nhìn dượng. Cái ly thì vần tiếp tục khăng khăng gõ gõ vào một bên mặt dượng Vernon; ông cố gắng đẩy nó ra. “Thằng cha đó chết à? Cha đỡ đầu của nó ấy?”

“Phải,” cụ Dumbledore nói. Cụ không hỏi Harry tại sao nó lại không kể chuyện này cho gia đình Dursley. “Vấn đề của chúng ta,” cụ nói tiếp với Harry như thể đã không có sự gián đoạn nào, “là Sirius còn để lại cho con căn nhà số 12 quảng trường Grimmauld.”

“Thằng đấy để lại cho nó căn nhà hả?” dượng Vernon nói một cách thèm khát, con mắt ti hí nheo lại, nhưng không ai trả lời.

“Thầy cứ tiếp tục dùng nó làm Tổng hành dinh.” Harry nói. “Con không quan tâm. Thầy cứ dùng nó. Con thực sự không muốn lấy nó.” Harry không bao giờ muốn đặt chân một lần nữa đến số 12 quảng trường Grimmauld nếu nó không được tham gia giúp sức. Nó nghĩ nó sẽ bị ám ảnh mãi mãi bởi những ký ức chú Sirius lảng vảng một mình trong căn phòng tối có mùi ẩm mốc, bị cầm tù trong một nơi mà chú rất muốn liều mạng để rời khỏi.

“Thật là hào phóng,” cụ Dumbledore nói. “Dù sao thì chúng ta cũng đã tạm thời bỏ trống nó rồi.”

“Tại sao?”

“À,” cụ Dumbledore nói, phớt lờ tiếng thở dài của dượng Vernon, giờ đây đầu dượng đang bị cái ly rượu mật ong kiên trì gõ nhẹ, “Dòng họ Black truyền thống đã ra chỉ thị căn nhà sẽ được truyền lại trực tiếp cho người con trai mang họ ‘Black’. Sirius là người cuối cùng trong dòng họ, cùng với em trai, Regulus, đã chết trước đó mà cả hai đều không có con. Trong khi kế hoạch của chú ấy là chú ấy muốn cho con căn nhà, tuy nhiên có khả năng là một vài câu thần chú hay bùa chú đã được đặt vào căn nhà để nó đảm bảo rằng người sở hữu căn nhà phải là một phù thủy có dòng máu thuần chủng.”

Hình ảnh bức tranh sống động kêu la inh ỏi của mẹ chú Sirius được treo trong căn nhà số mười hai quảng trường Grimmauld chợt hiện ra trong tâm trí Harry. “Cháu cá là ở đó còn,” nó nói.

“Đúng thế,” cụ Dumbledore nói. “Và nếu bùa chú đó còn tồn tại thì quyền sở hữu căn nhà sẽ được chuyển sang người họ hàng lớn tuổi nhất còn sống, nghĩa là chị họ của chú ấy, Bellatrix Lestrange.”

Không nhận thức được mình đang làm gì, Harry bật đứng dậy, cai kính thiên văn và đôi giầy của nó rơi bịch xuống sàn nhà. Bellatrix Lestrange, kẻ đã giết chú Sirius, sẽ thừa kế căn nhà sao?

“Không,” nó nói.

“Ừ, hiển nhiên là chúng ta không mong muốn bà ấy thừa kế căn nhà,” cụ Dumbledore nói điềm tĩnh. “Hoàn cảnh này đầy rắc rối phức tạp. Chúng ta không biết loại bùa chú nào đã được đặt lên căn nhà, ví dụ như, làm bùa chú Unplottable sẽ giúp cho quyền sở hữu được truyền từ Sirius. Có thể Bellatrix sẽ đến căn nhà ấy bất cứ lúc nào. Nên đương nhiên là chúng ta phải chuyển ra ngoài cho đến khi chúng ta tìm ra cách,”

“Nhưng làm sao chúng ta tìm ra cách để biết cháu có thể sở hữu nó?”

“May mắn thay,” cụ Dumbledore nói, “có một cách kiểm tra đơn giản.”

Cụ đặt cái ly cạn sạch xuống cái bàn nhỏ kế bên cạnh cái ghế, nhưng trước khi cụ kịp nói gì thì dượng Vernon quát lên “Ông có thể bỏ những cái thứ chết tiệt này ra khỏi chúng tôi được không?”

“Harry nhìn quanh, ba người nhà Dursley đang lấy tay ôm lấy đầu, còn những cái ly thì cứ nhảy lên nhảy xuống trên đầu họ, rượu mật ong bên trong thì bay văng khắp nơi.

“Ồ, tôi xin lỗi,” cụ Dumbledore nói một cách lịch sự, và vẩy cây đũa phép lần nữa. Cả ba cai ly biến mất. “Nhưng ông biết không, sẽ thật là phải phép nếu ông uống nó.”

Trông như thể dượng Vernon sắp nổ tung với lời đáp trả vừa rồi, nhưng ông chỉ đơn thuần lùi lại phía sau cùng với dì Petunia và Dudley mà không nói gì, tiếp tục chỉa đôi mắt heo về phía cây đũa phép của cụ Dumbledore.

“Con thấy đấy,” cụ Dumbledore quay qua nói tiếp với Harry như thể dượng Vernon chưa hề thốt ra lời nào, “nếu con thực sự thừa kế căn nhà, còn còn thừa kế -”

Cụ vẩy cây đũa phép lần thứ năm. Có một tiếng tách to, và một con gia tinh hiện ra với một cái vòi giống như cái mũi, đôi tai dơi khổng lồ và đôi mắt lồi màu đỏ, cúi mình xuống tấm thảm nhà Dursley, trên mình trùm một cái giẻ rách cáu bẩn. Dì Petunia thét lên, trong trí nhớ của bà chưa từng có thứ gì bần thỉu như thế trong phòng khách nhà bà. Đôi chân to bè của Dudley co rúm lại và đứng bất động như thể con quái vật kia sẽ chạy lại gần bộ đồ ngủ của nó, dượng Vernon rống lên, “Cái quái gì thế kia?”

“Kreacher,” cụ Dumbledore đáp.

“Kreacher không đi đâu, Kreacher không đi đâu, Kreacher không đi đâu!” con gia tinh rền rĩ, to đến mức dượng Vernon giậm chân, nhăn nhó bịt tai lại. “Kreacher thuộc về bà chủ Bellatrix, ồ vâng, Kreacher phục vụ dòng họ Black, Kreacher muốn bà chủ mới cơ, Kreacher không đi theo thằng nhóc láo lếu Potter đâu, Kreacher không chấp nhận, không chấp nhận, không chấp nhận -”

“Con thấy đấy Harry,” cụ Dumbledore nói lớn vượt qua tiếng rền rĩ của Kreacher “không chấp nhận, không chấp nhận, không chấp nhận,” “Kreacher sẽ cho thấy sự miễn cưỡng khi chuyển cho nó quyền sở hữu.”

“Tôi không quan tâm,” Harry nói, nhìn con gia tinh đang kêu la một cách phẫn nộ. “Con không muốn có nó.”

“Không chấp nhận, không chấp nhận, không chấp nhận, không chấp nhận -”

“Con muốn nó chuyển quyền sở hữu cho Bellatrix Lestrange sao? Hãy nhớ rằng nó đã sống ở tổng hành dinh của Hội Phượng Hoàng suốt năm ngoái.”

“Không chấp nhận, không chấp nhận, không chấp nhận -”

Harry nhìn chằm chằm cụ Dumbledore. Nó biết không thể để Kreacher đến sống cùng với Bellatrix Lestrange, nhưng cái ý nghĩ làm chủ nó, có trách nhiệm với con vật đã phản bội của Sirius thì thật ghê tởm.

“Hãy ra lệnh cho nó,” cụ Dumbledore nói. “Nếu nó thuộc quyền sở hữu của con, nó sẽ phải tuân lệnh. Nếu không, chúng ta sẽ phải nghĩ cách để giữ nó không trở về với bà chủ của nó.”

“Không chấp nhận, không chấp nhận, không chấp nhận, KHÔNG CHẤP NHẬN -”

Giọng Kreacher giờ đây như đang gào thét. Harry không nghĩ ra việc gì ngoài việc, “Kreacher, câm mồm!”

Có vẻ như Kreacher vừa bị nghẹt thở. Nó ôm lấy cổ họng, miệng nó vẫn đang cáu tiết, mắt nó lồi ra. Sau một vài giây nuốt như điên, nó quẳng người nó xuống tấm thảm (dì Petunia khóc thút thít) và dộng tay chân xuống sàn nhà, trông nó thật hung tơn, nhưng hoàn toàn im lặng.

“Tốt, việc này làm đơn giản mọi vấn đề,” cụ Dumbledore vui mừng nói. “Có vẻ như Sirius biết chú ấy phải làm gì. Con chắc chắn là chủ của căn nhà số mười hai quảng trường Grimmauld và là chủ của Kreacher.”

“Con phải - con phải giữ nó ở chung sao?” Harry kinh hoàng hỏi, Kreacher đang quẫy đạp dưới chân nó.

“Không nếu con không muốn,” cụ Dumbledore nói. “Ta có thể đề nghị, con có thể gửi nó tới Hogwarts để làm việc trong nhà bếp ở đó. Như vậy thì, những con gia tinh khác có thể để mắt trông chừng nó.”

“Dạ,” Harry phấn khởi đáp, “vâng, con sẽ làm như thế. Này Kreacher, ta muốn mi đến Hogwarts làm việc trong nhà bếp ở đó với những con gia tih khác.”

Kreacher đang nằm tựa lưng xuống thảm, chân tay giơ lên, cúi đầu nhìn Harry một cách căm ghét, và với một tiếng bụp lớn, nó biến mất.

“Tốt lắm,” cụ Dumbledore nói. “Vẫn còn một vấn đề nữa với con bằng mã, Buckbeak. Hagrid đã trông nom nó kể từ khi Sirius chết, nhưng Buckbeak giờ đây là của con luôn, vậy nếu con muốn có một sự sắp đặt khác -”

“Không,” Harry nói ngay, “nó cứ ở với bác Hagrid. Con nghĩ Buckbeak thích thế.”

“Hagrid sẽ rất sung sướng,” cụ Dumbledore mỉm cười nói. “Hagrid đã rất cảm động khi gặp lại Buckbeak. Tình cờ, chúng ta đã quyết định đặt tên lại cho Buckbeak vì sự an toàn của nó. ‘Witherwings’ là tên từ giờ trở đi của nó mặc dù ta nghi ngờ Bộ pháp thuật sẽ đoán ra nó chính là con bằng mã họ đã tuyên án tử hình. Bay giờ, Harry này, con đã đóng gói hành lý chưa?”

“Ơ … -”

“Chắc là ta đã nhầm?” cụ Dumbledore sắc sảo hỏi.

“Cháu đi - ờ - dọn dẹp ngay,” Harry vội vàng nói, rôi nhanh chóng nhặt cái kính thiên văn và đôi giầy lên.

Nó tốn khoảng gần mười phút để thu lượm những thứ cần thiết; cuối cùng nó mới lấy cái áo tàng hình dưới gầm tủ cho vào, vặn chặt cái bình mực thay đổ